Thông tư số 13/2023/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2011/TT-NHNN quy định về việc cấp Giấy phép và tổ chức, hoạt động của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại Việt Nam chính thức có hiệu lực từ ngày 14/12/2023.
Quy định mới về chuyển nhượng vốn góp
của ngân hàng liên doanh
Nguyễn Vũ
Thông tư số 13/2023/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2011/TT-NHNN quy định về việc cấp Giấy phép và tổ chức, hoạt động của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại Việt Nam chính thức có hiệu lực từ ngày 14/12/2023.
Một trong những nội dung đáng chú ý tại Thông tư số 13/2023/TT-NHNN là cho phép doanh nghiệp (không phải là ngân hàng) được góp vốn vào ngân hàng liên doanh; đồng thời bổ sung quy định về chuyển nhượng phần vốn góp, mua lại phần vốn góp của ngân hàng liên doanh cho đối tác mới là doanh nghiệp không phải là ngân hàng. Theo đó, nếu đối tác mới là doanh nghiệp (không phải ngân hàng) khi mua lại phần vốn góp của ngân hàng liên doanh phải đáp ứng các điều kiện như thành lập theo pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài; Trường hợp là doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), phải được cấp có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản cho phép tham gia góp vốn vào ngân hàng liên doanh theo quy định của pháp luật. Nếu là doanh nghiệp được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, phải tuân thủ việc góp vốn theo các quy định liên quan của pháp luật; Có vốn chủ sở hữu tối thiểu 1.000 tỷ đồng, tổng tài sản tối thiểu 2.000 tỷ đồng trong 03 năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp đối với phần vốn góp từ trên 1% đến dưới 5% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh hoặc có vốn chủ sở hữu tối thiểu 200 tỷ đồng, tổng tài sản tối thiểu 400 tỷ đồng trong 03 năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp đối với phần vốn góp từ 1% vốn điều lệ trở xuống của ngân hàng liên doanh. Đối với doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề kinh doanh có yêu cầu vốn pháp định, phải đảm bảo vốn chủ sở hữu trừ đi vốn pháp định tối thiểu bằng số vốn góp cam kết theo số liệu từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc lập...
Đặc biệt, tại Thông tư này bổ sung quy định, đối tác không được dùng vốn huy động, vốn vay của tổ chức, cá nhân khác để góp vốn và không phải là cổ đông sáng lập, chủ sở hữu, thành viên sáng lập, cổ đông chiến lược của TCTD khác được thành lập và hoạt động tại Việt Nam.
Những quy định trên được giới chuyên môn đánh giá để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động chuyển nhượng vốn, góp phần thúc đẩy phát triển hệ thống, thuận tiện cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu thành lập và hoạt động ngân hàng tại Việt Nam, đồng thời bổ sung quy định chặt chẽ hơn, hạn chế rủi ro.
Chung quan điểm, theo TS. Châu Đình Linh, Trường đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, trước đây đối tác góp vốn vào ngân hàng liên doanh chủ yếu là tổ chức tài chính trong nước và ngoài nước, việc bổ sung thêm chủ thể như DNNN, doanh nghiệp khác cũng có thể góp vốn thành lập ngân hàng liên doanh sẽ giúp thị trường chuyển nhượng, mua bán vốn sôi động hơn, tăng tính thanh khoản thị trường vốn, gia tăng sức mạnh tài chính cho hệ thống. Ngoài ra, quy định mức vốn chủ sở hữu có độ co giãn khá tốt từ 200 tỷ đồng đến 1.000 tỷ đồng, tùy thuộc vào tỷ lệ sở hữu cũng khuyến khích các nhà đầu tư tham gia nhiều hơn.
Giới chuyên môn đánh giá, ngoài lượng hóa vốn chủ sở hữu, việc đưa ra quy định vốn chuyển nhượng phải đến từ vốn nội lực của doanh nghiệp hoặc từ lợi nhuận giữ lại trong vốn chủ sở hữu, nghiêm cấm việc dùng vốn vay, vốn huy động cá nhân khác góp vốn là rất cần thiết để tránh trường hợp sở hữu chéo, thao túng đối với pháp nhân ngân hàng. Việc quan tâm chất lượng dòng vốn góp này, theo TS. Linh rất quan trọng để hạn chế việc góp vốn nhằm trục lợi dưới nhiều cách thức. Thực tế trong quá khứ đã xảy ra những việc tiêu cực trong câu chuyện chuyển nhượng, góp vốn làm ảnh hưởng đến an toàn hệ thống. Do đó, Thông tư 13 phải đưa ra các quy định chặt chẽ hơn, hạn chế rủi ro đã xảy ra trong quá khứ.
Tuy nhiên, để hạn chế tối đa rủi ro, một chuyên gia cho rằng, không chỉ đảm bảo chất lượng đầu vào nguồn vốn mà phải kích hoạt cơ chế giám sát vốn góp sử dụng đúng mục đích, phát huy hiệu quả không. “Trong khoảng thời gian nhất định phải thực hiện giám sát xem hoạt động kinh doanh của họ như thế nào, có trục trặc gì không để có cảnh báo sớm cho tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó”, vị chuyên gia này nêu vấn đề.
TS. Châu Đình Linh cũng nhấn mạnh, khâu giám sát rất quan trọng, những vụ việc xảy ra vừa qua trên thị trường tài chính trở nên nghiêm trọng hơn do khâu giám sát còn yếu. Vì vậy, phải có cơ chế kiểm soát 2-3 vòng vừa đảm bảo khách quan, chặt chẽ, hạn chế rủi ro có thể xảy ra. “Sau khi ngân hàng nhận vốn góp mới, định kỳ 1-2 năm phải đánh giá quản trị ngân hàng, chỉ số tài chính như hệ số thanh khoản, nợ xấu… có tích cực không để khoanh vùng xử lý sớm nếu phát hiện rủi ro tiềm ẩn”, TS. Linh đề xuất thêm.y