Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
1. Một số ưu điểm nổi bật
Rút ngắn thời gian xác minh thông tin khách hàng: Một trong những bước tiến quan trọng trong quá trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng tại Việt Nam là việc kết nối và khai thác dữ liệu từ CSDLQGvDC để phục vụ quy trình định danh và xác minh thông tin khách hàng (KYC). Trước đây, quy trình KYC truyền thống chủ yếu dựa vào hồ sơ giấy tờ do khách hàng cung cấp (chứng minh nhân dân, hộ khẩu, ảnh chân dung…), kết hợp với đối chiếu thủ công và xác minh qua các bước trung gian (ví dụ: Gọi điện xác thực, đối chiếu tại chi nhánh…). Toàn bộ quy trình này thường kéo dài từ 1 đến 3 ngày, thậm chí lâu hơn đối với các khách hàng ở khu vực xa trung tâm hoặc khi có nghi ngờ gian lận.
Việc ứng dụng CSDLQGvDC đã tạo ra bước ngoặt khi cho phép các tổ chức tín dụng (TCTD), ngân hàng truy xuất trực tiếp vào thông tin nhân thân của khách hàng (họ tên, ngày sinh, số định danh cá nhân, địa chỉ thường trú, tình trạng hôn nhân…) qua cổng xác thực của Bộ Công an. Qua đó, toàn bộ quy trình đối chiếu, xác minh và kiểm tra chéo thông tin có thể được thực hiện hoàn toàn tự động, trong vòng vài phút. Điều này không chỉ nâng cao trải nghiệm khách hàng mà còn giúp TCTD tiết kiệm chi phí vận hành, giảm thiểu rủi ro pháp lý liên quan đến sai sót trong xác minh danh tính.
Về lâu dài, việc xác thực tự động qua CSDLQGvDC còn mở ra cơ hội để triển khai các mô hình ngân hàng số “không giấy tờ” (paperless banking) và cung cấp dịch vụ tài chính trực tiếp, không phụ thuộc vào yếu tố địa lý. Đây là một trong những nền tảng then chốt để xây dựng hệ sinh thái tài chính số minh bạch, an toàn và toàn diện.
Nâng cao hiệu quả phòng, chống gian lận: Việc ứng dụng CCCD gắn chíp và định danh điện tử là giải pháp đột phá trong phòng, chống gian lận tài chính tại các ngân hàng. Trước đây, việc xác minh qua giấy tờ dễ bị làm giả, dẫn đến nhiều trường hợp hồ sơ vay vốn và tài khoản bị giả mạo. Nhờ kết nối với CSDLQGvDC và tích hợp công nghệ sinh trắc học, xác thực đa yếu tố, các tổ chức tài chính có thể xác thực danh tính khách hàng chính xác, nhanh chóng và an toàn, kể cả trong giao dịch số. Qua đó góp phần bảo vệ khách hàng và củng cố hệ thống tài chính số.
Mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính: Việc triển khai công nghệ định danh và xác thực điện tử đã tạo ra bước đột phá trong mở rộng tài chính toàn diện tại Việt Nam. Trước đây, người dân tại các khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ ngân hàng do hạn chế về hạ tầng chi nhánh, khoảng cách địa lý và yêu cầu xác minh trực tiếp. Tuy nhiên, nhờ kết nối trực tiếp với CSDLQGvDC, các ngân hàng hiện nay có thể xác minh danh tính khách hàng từ xa, nhanh chóng, chính xác mà không cần đến tiếp xúc trực tiếp hay kiểm tra thủ công. Việc không cần hiện diện trực tiếp giúp tiết kiệm chi phí vận hành, giảm thời gian xử lý hồ sơ, tạo điều kiện để ngân hàng phân bổ nguồn lực đến các sản phẩm tài chính phù hợp với đặc thù địa phương.
Hỗ trợ xây dựng hồ sơ tín dụng cá nhân chính xác hơn: Trong công tác quản lý rủi ro tín dụng, việc xác thực và định danh khách hàng một cách chính xác đóng vai trò nền tảng, quyết định đến chất lượng của toàn bộ quá trình thẩm định và cấp tín dụng. Trước đây, khi thông tin khách hàng chủ yếu dựa vào hồ sơ giấy và tự khai, các TCTD phải đối mặt với rủi ro từ thông tin sai lệch, không đầy đủ hoặc bị giả mạo, làm suy giảm hiệu quả mô hình đánh giá tín dụng và dễ dẫn đến nợ xấu. Việc ứng dụng công nghệ định danh hiện đại như CCCD gắn chíp và định danh điện tử (eID), đặc biệt khi được tích hợp với CSDLQGvDC, đã giúp thiết lập một hệ sinh thái dữ liệu khách hàng tin cậy, chính xác và có khả năng xác thực theo thời gian thực.
Thông qua việc truy xuất dữ liệu định danh chuẩn hóa - bao gồm mã định danh cá nhân, thông tin hộ tịch, nơi cư trú và các yếu tố sinh trắc học - TCTD có thể xây dựng hồ sơ khách hàng thống nhất và xuyên suốt trên toàn hệ thống. Điều này không chỉ giảm thiểu rủi ro từ thông tin trùng lặp, giả mạo mà còn giúp cải thiện độ chính xác của các mô hình phân tích tín dụng dựa trên dữ liệu lớn (Big Data), từ đó đưa ra quyết định cho vay sát với mức độ rủi ro thực tế. Ngoài ra, định danh chính xác còn giúp kiểm soát dư nợ theo cá nhân thay vì theo từng tổ chức, hạn chế tình trạng vay chéo, trục lợi chính sách và góp phần xây dựng thị trường tín dụng minh bạch, bền vững hơn.
2. Một số kết quả chuyển đổi số ngành Ngân hàng đạt được năm 2024
Triển khai Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ việc chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến 2030 (Đề án 06), năm 2024 ngành Ngân hàng đã đạt được những thành quả đáng khích lệ, đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế.
Thứ nhất, về công tác chỉ đạo triển khai: Bám sát các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an… Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành nhiều văn bản để triển khai, thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ của Đề án 06 (như: Kế hoạch phối hợp số 01/KHPH-BCA-NHNN giữa Bộ Công an và NHNN về triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án 06; Quyết định số 182/QĐ-NHNN ngày 01/02/2024 của Thống đốc NHNN về việc ban hành Kế hoạch năm 2024 của ngành Ngân hàng triển khai Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu vê dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ việc chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 15/01/2024 của Thống đốc NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2024; Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 15/01/2024 của Thống đốc NHNN về việc đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng; Quyết định số 67/QĐ-NHNN ngày 06/01/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt đề án chuyển đổi số của NHNN triển khai tiện ích cốt lõi phát triển ngành Ngân hàng, bảo đảm kết nối với đề án “phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” năm 2025…) và thường xuyên chỉ đạo toàn Ngành về việc triển khai các giải pháp ứng dụng dữ liệu dân cư, CCCD gắn chíp, tài khoản VneID… phục vụ hoạt động nghiệp vụ ngân hàng.
Thứ hai, về hoàn thiện thể chế: NHNN đã điều chỉnh quy trình nhằm cho phép sử dụng các giấy tờ điện tử tích hợp trên tài khoản định danh điện tử VNeID (truy cập ở mức độ 2) có giá trị tương đương với giấy tờ bản giấy, theo các thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn Luật Các TCTD và nội dung tại Nghị định 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt, nhằm thúc đẩy triển khai Đề án 06.
Thứ ba, về dữ liệu: NHNN đã triển khai hệ thống kết nối, khai thác CSDLQGvDC cho hệ thống dịch vụ công trực tuyến (cấp chứng thư số); đã kết nối kỹ thuật và hoàn thành việc xây dựng hệ thống thông tin kết nối, khai thác CSDLQGvDC phục vụ việc quản lý nhà nước về phòng, chống rửa tiền, hoàn thành rà soát, đối chiếu dữ liệu theo phương thức offline hơn 24 triệu khách hàng; Trung tâm Thông tin Tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC) đã phối hợp với C06, Bộ Công an thực hiện 6 đợt rà soát, đối chiếu dữ liệu theo phương thức offline khoảng 57 lượt hồ sơ khách hàng vay.
Thứ tư, về kết nối CSDLQGvDC phục vụ phát triển kinh tế xã hội của ngành Ngân hàng: Tính đến hết ngày 11/4/2025, toàn ngành Ngân hàng đã có hơn 108.1 triệu hộp sơ khách hàng cá nhân (CIF) được đối chiếu sinh trắc học qua CCCD gắn chíp hoặc ứng dụng VneID. Trong đó, 60 TCTD đã triển khai ứng dụng thẻ CCCD gắn chíp qua thiết bị tại quầy; 56 TCTD và 39 tổ chức trung gian thanh toán (TGTT) đã triển khai ứng dụng thẻ CCCD gắn chip qua ứng dụng điện thoại; 32 TCTD và 15 tổ chức TGTT đang triển khai ứng dụng VneID trong đó có 18 đơn vị đã triển khai thực tế.
3. Một số khó khăn, vướng mắc
Thứ nhất, tội phạm công nghệ cao ngày càng tinh vi: Trong bối cảnh tội phạm công nghệ cao ngày càng gia tăng cả về quy mô lẫn mức độ tinh vi, việc kết nối giữa hệ thống ngân hàng và CSDLQGvDC không chỉ là một thách thức kỹ thuật mà còn là bài toán an ninh mang tính sống còn đối với các ngân hàng. Các đối tượng tội phạm hiện nay không còn hoạt động riêng lẻ, mà thường tổ chức thành các nhóm chuyên nghiệp, sử dụng công cụ tấn công mạng hiện đại như tấn công giả mạo (phishing), chiếm quyền điều khiển hệ thống (hijacking) hoặc khai thác lỗ hổng bảo mật trong quy trình xác thực để chiếm đoạt thông tin định danh và thực hiện các hành vi gian lận .
Chính vì vậy, trong quá trình kết nối với CSDLQGvDC đây là một kho dữ liệu đặc biệt quan trọng chứa thông tin định danh của toàn bộ công dân - các ngân hàng và TCTD đối mặt với áp lực rất lớn trong việc bảo đảm an toàn tuyệt đối cho hệ thống. Bất kỳ một lỗ hổng nào hay cơ chế xác thực người dùng đều có thể bị lợi dụng để truy cập trái phép, làm sai lệch dữ liệu, thậm chí chiếm đoạt tài sản của khách hàng. Đặc biệt, khi nhiều ngân hàng đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ bị khai thác bởi các cuộc tấn công có chủ đích.
Thứ hai, tỷ lệ người dân sử dụng định danh điện tử mức độ cao còn thấp: Một trong những rào cản lớn trong tiến trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng hiện nay chính là tỷ lệ người dân sử dụng định danh điện tử mức độ 2 (eID mức độ 2) còn tương đối thấp. Ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mở rộng các dịch vụ yêu cầu xác thực mạnh như mở tài khoản trực tuyến, phê duyệt khoản vay từ xa hay ký hợp đồng điện tử…
Định danh điện tử mức độ cao đòi hỏi công dân phải thực hiện đầy đủ quy trình xác minh danh tính thông qua dữ liệu sinh trắc học và xác thực trực tiếp với hệ thống quản lý nhà nước. Tuy nhiên, nhận thức của người dân về tầm quan trọng và lợi ích thiết thực của eID mức độ 2 vẫn còn hạn chế, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Nhiều người dân vẫn e ngại về tính an toàn dữ liệu cá nhân, hoặc gặp khó khăn trong việc tiếp cận quy trình đăng ký do thiếu thiết bị công nghệ...
Hệ quả là, các ngân hàng dù đã sẵn sàng về hạ tầng công nghệ và dịch vụ vẫn gặp trở ngại trong việc mở rộng sản phẩm tài chính số một cách toàn diện. Việc thiếu xác thực mạnh khiến các dịch vụ như định danh khách hàng điện tử (eKYC) phải dừng lại ở mức độ trung gian, làm giảm khả năng tự động hóa quy trình, kéo dài thời gian xử lý và tăng rủi ro trong việc xác minh danh tính khách hàng.
4. Một số đề xuất kiến nghị
Thứ nhất, đối với NHNN: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các quy định và hướng dẫn về kế toán, tài chính, tài sản nhằm tạo hành lang pháp lý cho các đơn vị thực hiện thống nhất, đảm bảo tuân thủ các quy định mới của Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu…phù hợp với đặc thù hoạt động của hệ thống NHNN; phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an và các bộ, ngành để triển khai các nhiệm vụ tại Đề án 06; xây dựng, triển khai gói tín dụng cho vay doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, công nghệ số từ nguồn lực của các TCTD bảo đảm phù hợp với yêu cầu và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ…
Thứ hai, tại các TCTD và TGTT: Nghiên cứu, tăng cường công tác đảm bảo an ninh, an toàn, giảm thiểu tối đa các rủi ro phát sinh trong quá trình cung ứng, thực hiện các hoạt động ngân hàng trên môi trường số; hoàn thành đối chiếu khớp đúng thông tin sinh trắc học của chủ tài khoản thanh toán, ví điện tử hoặc người đại diện hợp pháp; tăng cường sử dụng Bigdata - AI và các công nghệ mới nhằm cung cấp dịch vụ cá nhân hóa, nâng cao trải nghiệm khách hàng, phát hiện giao dịch gian lận, lừa đảo; đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích và cách thức sử dụng CCCD gắn chíp, định danh điện tử trong các giao dịch tài chính - ngân hàng…
5. Kết luận
Việc ứng dụng CSDLQGvDC, CCCD gắn chíp và định danh - xác thực điện tử vào lĩnh vực ngân hàng - tài chính không chỉ là bước đi tất yếu trong quá trình chuyển đổi số quốc gia, mà còn mở ra cơ hội lớn để hiện đại hóa hệ thống tài chính, nâng cao trải nghiệm người dùng và tăng cường hiệu quả quản lý rủi ro. Tuy nhiên, để phát huy tối đa tiềm năng của hệ thống định danh số, vẫn cần giải quyết nhiều thách thức như: Bảo đảm an ninh mạng trước các hình thức tội phạm công nghệ cao ngày càng tinh vi; đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức và thúc đẩy người dân đăng ký định danh điện tử mức độ cao; hoàn thiện nền tảng kỹ thuật tích hợp và cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan.
Về dài hạn, một hệ sinh thái định danh điện tử mạnh mẽ, tin cậy và bảo mật sẽ là nền móng vững chắc để xây dựng nền tài chính số toàn diện, minh bạch và phát triển bền vững, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Đề án 06 và Chiến lược chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025 định hướng đến năm 2030.
Tài liệu tham khảo:
Báo cáo tóm tắt: Phiên họp lần thứ nhất Ban chỉ đạo ngành Ngân hàng về Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06.
VD