Cụ thể là, trái quyền ngân hàng qua biên giới tăng 801 tỷ USD trong quý 3/2023, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là nhờ giá trị thị trường của các tài sản phái sinh và các ngân hàng đẩy mạnh cho vay. Tín dụng ngân hàng qua biên giới tăng 448 tỷ USD, tăng 2,0% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là nhờ tín dụng vào các nước phát triển (AEs) tăng cao. Trái lại, tín dụng vào các nước đang phát triển và mới nổi (EMDEs) thu hẹp tới 3,0% so với cùng kỳ năm trước. Dòng tín dụng quốc tế vào khu vực phi ngân hàng tiếp tục mở rộng, với mức tăng 254 tỷ USD trong quý 3/2023, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Kể từ giữa nam 2021, cho vay đối với khách hàng phi ngân hàng tại Trung Quốc bắt đầu giảm, nguyên nhân là do điều kiện tài chính khắt khe và chiến lược zero-Covid cũng như tác động của khủng hoảng bất động sản.
Dòng tín dụng vào AEs tăng cao
Thống kê hoạt động ngân hàng nội địa (LBS) của BIS cho thấy, trái quyền qua biên giới trong quý 3/2023 tăng 801 tỷ USD (tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước) lên tổng giá trị 38 nghìn tỷ USD. Mức tăng này bắt nguồn từ kết quả tăng thị giá của các phái sinh và những công cụ khác (+329 tỷ USD) trong bối cảnh bất ổn về diễn biến lạm phát tương lai và chính sách tiền tệ tại các nền kinh tế chủ chốt, cũng như sự mở rộng quy mô tín dụng ngân hàng.
Trong quý 3/2023, tín dụng qua biên giới tăng 448 tỷ USD, chủ yếu là nhờ cho vay dưới dạng USD tăng vững. Tín dụng dưới dạng EUR thay đổi không đáng kể, trong khi cho vay dưới dạng đồng tiền khác (chủ yếu là JPY) tăng trên 200 tỷ USD. Cho vay đối với khách hàng tại Mỹ, Nhật Bản và VQ Anh tăng cao nhất, góp phần thúc đẩy dòng tín dụng vào AEs. Trái lại, dòng tín dụng vào EMDEs trong quý 3/2023 chỉ tăng khiêm tốn, để lại mức giảm tổng dư nợ (-3%) so với cùng kỳ năm trước.
Nếu phân theo khu vực khách hàng vay vốn, tín dụng đối với khu vực phi ngân hàng, cụ thể là tại AEs, dẫn dắt toàn bộ mức tăng này. Với mức tăng 341 tỷ USD trong quý 3/2023, dư nợ cho vay qua biên giới trên toàn cầu tăng lên 15 nghìn tỷ USD. Trong quý 3/2023, tín dụng liên ngân hàng chỉ tăng thấp (95 tỷ USD), cho vay nội bộ thu hẹp tới 3% so với cùng kỳ năm trước.
Liên quan đến khu vực phi ngân hàng, lượng vốn cho vay mới tập trung chủ yếu vào các định chế tài chính phi ngân hàng (NBFIs), riêng cho vay mới tại AEs đạt 238 tỷ USD. Tín dụng dưới dạng USD dành cho NBFIs ghi nhận 3 quý tăng liên tiếp, riêng trong quý 3/2023 tăng 173 tỷ USD (tăng 12% so với cuối tháng 9/2023). Trong khi đó, tín dụng dưới dạng EUR tiếp tục giảm.
Tại hầu hết các khu vực thuộc EMDEs, cho vay qua biên giới vẫn trầm lắng, cả tín dụng USD và EUR. Trong quý 3/2023, dòng tín dụng vào các nước Mỹ Latinh giảm sâu nhất, chủ yếu là trường hợp Brazil. Trái lại, dòng tín dụng vào châu Á - Thái Bình Dương tăng 48 tỷ USD, nhất là tín dụng vào Trung Quốc (lần đầu tiên ghi nhận mức tăng dương kể từ đầu năm 2022).
Mặc dù có dấu hiệu ổn định trong quý 3/2023, nhưng dòng tín dụng USD vào EMDEs vẫn thấp hơn tổng dư nợ trong năm 2022. Tín dụng EUR tiếp tục giảm, thu hẹp tới 6% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là do cho vay đối với Trung Quốc và những nước khác tại châu Á (lần lượt giảm 21% và 12% so với cùng kỳ năm trước). Trái lại, tín dụng JPY và CNY tăng mạnh, lần lượt tăng 17 tỷ USD và 11 tỷ USD, đưa tổng mức tăng tín dụng ngoại tệ khác (ngoài và EUR) lên 5% so với cùng kỳ năm trước.
Dòng tín dụng vào các khu vực phi tài chính tại Trung Quốc tiếp tục giảm
Mặc đù tín dụng vào Trung Quốc tăng tốc trong quý 3/2023, nhưng tổng dư nợ chỉ đạt 793 tỷ USD, khá thấp so với tổng dư nợ ghi nhận vào giữa năm 2021. Trên 50% mức sụt giảm trong giai đoạn này là cho vay đối với khu vực phi tài chính, bao gồm lĩnh vực bất động sản. Các ngân hàng tại châu Á - Thái Bình Dương cắt giảm tín dụng sâu nhất, với trên 100 tỷ USD kể từ giữa năm 2021, chủ yếu là cắt giảm cho vay đối với các ngân hàng Trung Quốc đang hoạt động ở nước ngoài.
Theo thống kê của BIS về hoạt động ngân hàng hợp nhất, dòng tín dùng từ khu vực phi ngân hàng Trung Quốc vào Trung Quốc cũng phản ánh bức tranh tương tự. Đến cuối tháng 9/2023, tín dụng ngân hàng toàn cầu vào Trung Quốc (bao gồm tín dụng qua biên giới và cho vay đối với các chi nhánh ngân hàng tại Trung Quốc) đạt 826 tỷ USD, giảm 12% so với giữa năm 2021, mức sụt giảm tập trung chủ yếu là tín dụng liên ngân hàng và cho vay đối với khu vực phi tài chính tư nhân tại Trung Quốc. Trong giai đoạn này, nợ khu vực phi tài chính tư nhân tại Trung Quốc đối với các ngân hàng nước ngoài giảm gần 70 tỷ USD, chủ yếu là đối với các ngân hàng Nhật Bản và VQ Anh.
Dòng tín dụng vào khu vực phi ngân hàng tại Trung Quốc bắt đầu giảm từ giữa năm 2021, và tính đến cuối quý 3/2023 đã giảm tổng cộng 140 tỷ USD (giảm 25%), mức giảm này được bù đắp phần nào nhờ tín dụng JPY tăng 3 tỷ USD trong giai đoạn này.
Các chỉ số thanh khoản toàn cầu tính đến cuối tháng 9/2023
Các chỉ số thanh khoản toàn cầu (GLIs) của BIS ghi chép tổng tín dụng đối với khách hàng phi ngân hàng, cả tín dụng ngân hàng và cho vay từ các thị trường trái phiếu toàn cầu, tập trung vào tín dụng USD, EUR và JPY đối với khách hàng không cư trú.
Trong quý 3/2023, tín dụng dưới dạng USD và EUR ghi nhận mức tăng nhẹ, trong khi cho vay JPY giảm. Cho vay USD đối với khách hàng phi ngân hàng bên ngoài nước Mỹ tăng 41 tỷ USD, đưa tổng dư nợ lên 13 nghìn tỷ USD, nhưng giảm so với cùng kỳ năm trước. Dư nợ cho vay EUR đối với khách hàng phi ngân hàng bên ngoài khu vực đồng euro đạt gần 4 nghìn tỷ EUR (4,3 nghìn tỷ USD), tăng 4% so với cùng kỳ năm trước. Sau hai năm tăng tốc, cho vay JPY đối với khách hàng phi ngân hàng bên ngoài Nhật Bản đã mất động lượng, khi các ngân hàng hạn chế cho vay, nhưng tổng dư nợ vẫn đạt 56 nghìn tỷ JPY (390 tỷ USD), tăng 11% so với cùng kỳ năm trước.
Trong quý 3/2023, cho vay USD đối với khách hàng phi ngân hàng tại EMDEs giảm 42 tỷ USD, nguyên nhân là do các ngân hàng hạn chế cho vay, với tổng dư nợ 5,1 nghìn tỷ USD, nhưng vẫn giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong số này, dòng tín dụng vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương giảm sâu nhất (27 tỷ USD), tiếp đến là vào các nước Mỹ Latinh (giảm 9 tỷ USD).
Sự khác biệt về tăng trưởng tín dụng giữa USD, EUR, JPY phản ánh chi phí vay vốn liên quan và diễn biến tỷ giá. Trong những năm gần đây, diễn biến trái chiều giữa tỷ giá và tăng trưởng tín dụng thể hiện rõ nét. Từ đầu năm 2022, các động thái thắt chặt tiền tệ tại Mỹ đã cản trở tín dụng và phát hành trái phiếu dưới dạng USD. Sau khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất, Ngân hàng Trung ương châu Âu cũng có động thái tương tự, cản trở tín dụng và phát hành trái phiếu EUR. Trong giai đoạn từ đầu năm 2022 đến giữa năm 2023, đồng yên mất giá khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản duy trì lãi suất cơ bản ở mức âm đã thúc đẩy tín dụng JPY tăng tốc.
Diễn biến trái chiều giữa tỷ giá và tăng trưởng tín dụng thể hiện rõ rệt tại EMDEs, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức giảm trung bình toàn cầu 0,6%. Trong quý 3/3023, tín dụng EUR bên ngoài khu vực đồng euro tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, nhưng cho vay EUR đối với EMDEs giảm 3,4%. Cho vay JPY đối với EMDEs tiếp tục tăng 20% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng tín dụng JPY trung bình toàn cầu 11%.
Hoàng Thế Thoả
Nguồn tham khảo: BIS tháng 01/2024