Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nhận được 01 kiến nghị của cử tri tỉnh Bắc Giang gửi tới trước Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV do Ban Dân nguyện chuyển đến theo văn bản số 1611/BDN ngày 21/11/2023.
Kiến nghị của cử tri: “Thời gian qua, việc điều hành chính sách tiền tệ có ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp, như: Cuối năm 2022 việc vay vốn gặp rất nhiều khó khăn do các ngân hàng thương mại (NHTM) có chủ trương thu tiền về gấp, không cho doanh nghiệp được đáo hạn; hiện nay các ngân hàng thương mại dư thừa tiền để cho vay nhưng nhiều doanh nghiệp không còn nhu cầu nữa. Đề nghị NHNN nghiên cứu điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) linh hoạt, nhất quán và ổn định hơn giúp các doanh nghiệp yên tâm, chủ động đầu tư sản xuất, kinh doanh”. (Câu số 04)
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trân trọng cảm ơn Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang và xin báo cáo như sau:
Thời gian qua, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã điều hành các công cụ CSTT đồng bộ, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để hướng đến mục tiêu cao nhất là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế phù hợp. Tuy nhiên, với đặc điểm là một nền kinh tế nhỏ, độ mở lớn, kinh tế Việt Nam dễ chịu tác động từ những biến động bất thường trên thị trường thế giới, công tác điều hành CSTT về lãi suất, tỷ giá trong nước chịu áp lực từ việc điều chỉnh CSTT tại các NHTW lớn trên thế giới.
Trong bối cảnh đó, điều hành CSTT phải cân đối giữa các nhiệm vụ, mục tiêu đan xen, thậm chí có thời điểm mâu thuẫn nhau trong việc kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, nâng cao tính linh hoạt trong điều hành, tạo dư địa chính sách để tăng khả năng hấp thụ các cú sốc từ bên ngoài. Ví dụ như trong thời điểm cuối năm 2022, trong bối cảnh lạm phát toàn cầu neo ở mức cao, đồng USD tăng giá mạnh, xu hướng thắt chặt CSTT nhanh và mạnh của Fed đã gia tăng áp lực lên mặt bằng lãi suất và tỷ giá trong nước, tạo sức ép lên lạm phát, sự cố ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) gây áp lực lớn đến thị trường tiền tệ, NHNN đã điều chỉnh tăng lãi suất điều hành 0,8-2%/năm trong tháng 9 và 10/2022 để góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ ổn định tỷ giá và thị trường ngoại tệ. Đây là giải pháp kịp thời, phù hợp với xu hướng chung tăng lãi suất trên toàn thế giới để ưu tiên kiểm soát lạm phát, giữ ổn định tỷ giá, tạo dư địa thích ứng mới với các biến động trên thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô đảm bảo an toàn hệ thống.
Trong các tháng đầu năm 2023, khi điều kiện thị trường cho phép và để hướng đến mục tiêu hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã điều chỉnh giảm liên tục 04 lần các mức lãi suất điều hành với mức giảm 0,5-2,0%/năm1, trong bối cảnh lãi suất thế giới vẫn tiếp tục tăng và neo ở mức cao, qua đó đã tạo điều kiện để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
Có thể nói, việc điều hành CSTT của NHNN được thực hiện phù hợp theo diễn biến kinh tế vĩ mô trong nước và thế giới, luôn nhất quán với mục tiêu CSTT theo luật định, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; qua đó duy trì niềm tin của nhà đầu tư, cộng đồng doanh nghiệp, người dân đối với môi trường kinh doanh, cũng như nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế2, tạo nền tảng vững chắc để tiếp tục thực hiện các mục tiêu đặt ra trong giai đoạn 2021-2025.
Về điều hành tín dụng: Trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát được Quốc hội và Chính phủ đặt ra, NHNN xây dựng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng cho từng năm3, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Trong năm, trên cơ sở tình hình thực tế, NHNN định kỳ rà soát và linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các tổ chức tín dụng (TCTD) để đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế, phù hợp với chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ. Theo đó, NHNN đã điều hành các giải pháp tín dụng nhằm kiểm soát quy mô tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng, nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế, đồng thời đảm bảo ổn định an toàn hệ thống. Chỉ đạo các TCTD hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên; thực hiện các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong tiếp cận vốn tín dụng, đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả.
* Đối với năm 2022: Trong các tháng đầu năm, thanh khoản hệ thống TCTD ổn định, tuy nhiên từ tháng 10/2022 sau sự kiện rút tiền hàng loạt xảy ra tại SCB và có dấu hiệu lan truyền ở một số TCTD, ảnh hưởng lớn tới thanh khoản hệ thống, thì các TCTD phải gia tăng đảm bảo thanh khoản, hạn chế khả năng cấp thêm tín dụng. Sang tháng 12/2022, mặc dù dư địa tín dụng toàn hệ thống vẫn còn4 nhưng một số TCTD đã hết hoặc sát chỉ tiêu tín dụng và khi thanh khoản thị trường cải thiện hơn, tâm lý thị trường dần phục hồi, NHNN đã điều chỉnh tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống thêm 1,5-2% vào ngày 05/12/2022 nhằm tạo điều kiện cho các TCTD có khả năng tăng trưởng tín dụng cung ứng thêm vốn hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Nhờ đó, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng cả năm 2022 đạt 14,18% (cao nhất trong 5 năm gần đây5). Như vậy, công tác điều hành tín dụng năm 2022 của NHNN là phù hợp, kịp thời, giải quyết hài hòa một số thách thức trong bối cảnh lúc đó: (i) Điều hành tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế mà vẫn phải đảm bảo an toàn hệ thống, trong khi các chỉ tiêu tiền tệ như tín dụng/huy động vốn và dư nợ tín dụng/GDP của Việt Nam đã và đang ở ngưỡng cảnh báo, thị trường bất động sản và thị trường trái phiếu doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn; (ii) Đảm bảo ổn định hoạt động hệ thống các TCTD khi thị trường chịu tác động mạnh bởi sự cố ngân hàng SCB chưa từng có tiền lệ, ảnh hưởng lớn đến thanh khoản và niềm tin của người gửi tiền. Bên cạnh đó, ngoài việc duy trì, đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu an toàn hoạt động theo quy định của NHNN, việc mở rộng/thu hẹp tín dụng còn phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh, khẩu vị rủi ro, đặc thù hoạt động… của các TCTD trong từng thời kỳ. Trong trường hợp nhận được khiếu nại, phản ánh của khách hàng về việc các TCTD cố tình không tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng và cấp tín dụng, NHNN sẽ xem xét, xử lý, đảm bảo hoạt động tín dụng diễn ra thuận lợi, an toàn, hiệu quả.
* Sang năm 2023, ngay từ đầu năm, NHNN đã có công văn thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng TCTD và đến tháng 7/2023, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế khó khăn, các nguồn vốn trong nền kinh tế gặp khó khăn, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong việc tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, NHNN đã điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2023 cho các TCTD với mức giao toàn hệ thống bằng với chỉ tiêu định hướng năm 2023. Mặc dù NHNN đã triển khai quyết liệt rất nhiều giải pháp, nhưng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống thấp hơn so với chỉ tiêu định hướng đầu năm và mức NHNN đã thông báo cho các TCTD. Mức tăng trưởng tín dụng không đồng đều, một số TCTD tăng trưởng khá cao, một số TCTD tăng trưởng thấp, thậm chí tăng trưởng âm. Do đó, để kịp thời linh hoạt điều hành, đáp ứng yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng phục vụ nhu cầu vốn cho quá trình phục hồi tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã chủ động linh hoạt điều hòa chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong toàn hệ thống từ TCTD không sử dụng hết chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng sang các TCTD cần được tiếp tục mở rộng tăng trưởng tín dụng từ ngày 29/11/2023. Theo đó, ngân hàng có dư nợ tín dụng năm 2023 đạt từ 80% mức dư nợ tín dụng NHNN đã thông báo thì ngân hàng được tự chủ động điều chỉnh tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng theo nguyên tắc NHNN đã thông báo, ngân hàng không cần có văn bản đề nghị NHNN điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.
Việc bổ sung hạn mức theo cơ chế tự động này là sự chủ động của NHNN trong công tác điều hành nhằm để các TCTD được tự chủ động nâng hạn mức tăng trưởng tín dụng khi đáp ứng điều kiện mà TCTD không phải đề nghị NHNN điều chỉnh chỉ tiêu bổ sung.
Với các giải pháp linh hoạt trong điều hành tăng trưởng tín dụng trên đây, tín dụng tăng phù hợp với khả năng hấp thụ và đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, qua đó góp phần hỗ trợ kinh tế phục hồi, đặc biệt trong giai đoạn bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 và trong bối cảnh các kênh cung ứng vốn khác cho nền kinh tế gặp khó khăn. Trong 2 năm 2021-2022, tăng trưởng tín dụng đều đạt mục tiêu đề ra, trong đó năm 2021 đạt 13,61%, năm 2022 đạt 14,18%. Đến ngày 31/12/2023, tín dụng đối với nền kinh tế tăng 13,71% so với cuối năm 2022.
Trong năm 2024, tiếp tục bám sát Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, để tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD cung ứng nguồn vốn tín dụng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, NHNN đã đưa ra kế hoạch định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2024 khoảng 15%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế, giao hết toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng từ đầu năm và tiến hành thông báo nguyên tắc tính toán chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng để TCTD tự xác định chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của mình.
Trên đây là ý kiến trả lời của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về nội dung kiến nghị của cử tri tỉnh Bắc Giang. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trân trọng cảm ơn và rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ của cử tri đối với hoạt động ngân hàng./.
1 (i) Lãi suất tái cấp vốn giảm từ 6%/năm xuống 4,5%/năm; Lãi suất tái chiết khấu giảm từ 4,5%/năm xuống 3%/năm; Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN giảm từ 7%/năm xuống 5%/năm; (ii) Lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND kỳ hạn dưới 6 tháng, tiền gửi KKH và kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 1%/năm xuống 0,5%/năm, tiền gửi kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng giảm từ 6%/năm xuống 4,75%/năm; (iii) Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số lĩnh vực ưu tiên giảm từ 5,5%/năm xuống 4%/năm.
2 Năm 2021, Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới được cả 03 tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế nâng triển vọng lên “tích cực” trong bối cảnh rất nhiều quốc gia liên tiếp bị hạ bậc xếp hạng do ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh; tháng 5/2022, S&P tiếp tục nâng xếp hạng của Việt Nam từ BB lên BB+ và tháng 9/2022, Moody’s Investors Service đã nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam từ mức Ba3 lên mức Ba2, với triển vọng ổn định.
3 Năm 2021 khoảng 12%; năm 2022 khoảng 14%; năm 2023 khoảng 14-15%.
4 Trước thời điểm NHNN nới room lần 2, tín dụng toàn hệ thống tăng 12,02% so với cuối năm 2021.
5 Tăng trưởng tín dụng năm 2018: 13,89%; Năm 2019: 13,65%; Năm 2020: 12,17%; Năm 2021: 13,61%.