Theo đó, rủi ro tăng trưởng thấp vẫn chi phối triển vọng kinh tế, xung đột tại Trung Đông và cuộc chiến tại Ukraina có thể đẩy giá năng lượng và thực phẩm tăng cao, cản trở các hoạt động kinh tế và tăng lạm phát. Những rủi ro khác bao gồm, căng thẳng tài chính (do lãi suất tăng cao), lạm phát triền miên, kinh tế Trung Quốc tăng thấp hơn kỳ vọng, căng thẳng thương mại và phân đoạn thị trường kéo dài, thiên tai ngày càng khốc liệt.
Sau khi tăng kỷ lục vào giữa năm 2022, lạm phát đã hạ nhiệt trên phạm vi toàn cầu và đang tiếp tục giảm. Tuy nhiên, lạm phát vẫn cao hơn mục tiêu đề ra tại hầu hết các nước phát triển (AEs) và khoảng ½ số quốc gia đang phát triển và mới nổi (EMDEs). Trong năm 2024, lạm phát toàn cầu vẫn cao hơn mức trung bình trong giai đoạn 2015-2019. Chu kỳ thắt chặt tiền tệ tại AEs đã kết thúc, nhưng lãi suất thực vẫn đứng ở mức cao, do lạm phát chỉ giảm dần xuống mục tiêu đề ra. Vì thế, AEs vẫn phải duy trì chính sách tiền tệ hạn chế thêm một thời gian.
Trong năm 2023, thương mại toàn cầu ghi nhận mức tăng thấp nhất trong 50 năm qua, trao đổi hàng hóa thu hẹp và hoạt động công nghiệp yếu ớt; trao đổi dịch vụ tiếp tục phục hồi, nhưng chậm hơn so với kỳ vọng. Bước sang năm 2024, thương mại toàn cầu được dự báo sẽ cải thiện với mức tăng 2,3%, phản ánh xu hướng phục hồi nhu cầu về hàng hóa và trao đổi thương mại tại AEs.
Trong năm 2023-2024, đầu tư vào tài sản cố định tại EMDEs được kỳ vọng chỉ tăng trung bình 4,1%, tương đương ½ tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn 2000-2019. Nguồn vốn đầu tư tăng thấp đã trầm trọng thêm tình hình tại nhiều EMDEs do không đủ nguồn vốn đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển cần thiết. Tại EMDEs, dư địa tài khóa vẫn hạn hẹp, với mức nợ công năm 2023 chiếm tỷ trọng trung bình 53% GDP và trên 2/3 số quốc gia thuộc nhóm EMDEs có tỷ trọng nợ so GDP cao hơn trong thập kỷ trước đại dịch. Nợ nần ở mức cao tác động tiêu cực đến tính bền vững tài khóa, xói mòn tâm lý của các nhà đầu tư và làm tăng chi phí tài chính.
Mặc dù xung đột tại Trung Đông đã gây biến động giá cả trong thời gian gần đây, nhưng giá dầu trung bình trong năm 2024 có thể sẽ giảm thấp do căng thẳng địa chính trị tại khu vực này sẽ không leo thang, trong khi nguồn cung tăng vững và kinh tế toàn cầu trầm lắng. Giá kim loại được dự báo sẽ quay đầu giảm, do kinh tế Trung Quốc tăng chậm sẽ góp phần kéo giảm nhu cầu về mặt hàng này. Do nguồn cung dồi dào, giá cả các mặt hàng thực phẩm được kỳ vọng sẽ hạ nhiệt, mặc dù vẫn đứng ở mức cao.
Trong ngữ cảnh như vậy, GDP toàn cầu sẽ tiếp tục giảm từ kết quả tăng 2,6% trong năm 2023 xuống mức tăng 2,4% trong năm 2024. Xu hướng giảm tốc này cho thấy, thị trường lao động không còn sôi động như trước, nguồn tiết kiệm (từ mùa dịch) cạn dần, nhu cầu về dịch vụ có dấu hiệu quay đầu giảm, tác động trễ của chính sách tiền tệ thắt chặt, và các nỗ lực củng cố tài khóa. Bước sang năm 2025, kinh tế toàn cầu sẽ phục hồi và tăng 2,7%, khi lạm phát tiếp tục giảm, mặt bằng lãi suất giảm dần, thương mại tăng vững.
Tăng trưởng GDP thực tế (1) (% so năm trước)
|
Thực tế và dự báo |
Thay đổi (2) |
||||||
|
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
2023 |
2024 |
2025 |
Tăng trưởng GDP toàn cầu |
6,2 |
3,0 |
2,6 |
2,4 |
2,7 |
0,5 |
0,0 |
-0,3 |
Các nước phát triển |
5,5 |
2,5 |
1,5 |
1,2 |
1,6 |
0,8 |
0,0 |
-0,6 |
Mỹ |
5,8 |
1,9 |
2,5 |
1,6 |
1,7 |
1,4 |
0,8 |
-0,6 |
Khu vực đồng euro |
5,9 |
3,4 |
0,4 |
0,7 |
1,6 |
0,0 |
-0,6 |
-0,7 |
Nhật Bản |
2,6 |
1,0 |
1,8 |
0,9 |
0,8 |
1,0 |
0,2 |
0,2 |
EMDEs |
7,0 |
3,7 |
4,0 |
3,9 |
4,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Đông Á Thái Bình Dương |
7,5 |
3,4 |
5,1 |
4,5 |
4,4 |
-0,4 |
-0,1 |
-0,1 |
Trung Quốc |
8,4 |
3,0 |
5,2 |
4,5 |
4,3 |
-0,4 |
-0,1 |
-0,1 |
Indonesia |
3,7 |
5,3 |
5,0 |
4,9 |
4,9 |
0,1 |
0,0 |
-0,1 |
Thái Lan |
1,5 |
2,6 |
2,5 |
3,2 |
3,1 |
-1,4 |
-0,4 |
-0,3 |
Việt Nam |
2,6 |
8,0 |
4,7 |
5,5 |
6,0 |
-1,3 |
-0,7 |
-0,5 |
Châu Âu và Trung Á |
7,1 |
1,2 |
2,7 |
2,4 |
2,7 |
1,3 |
-0,3 |
0,0 |
CHLB Nga |
5,6 |
-2,1 |
2,6 |
1,3 |
0,9 |
2,8 |
0,1 |
0,1 |
Thổ Nhĩ Kỳ |
11,4 |
5,5 |
4,2 |
3,1 |
3,9 |
1,0 |
-1,2 |
-0,2 |
Ba Lan |
6,9 |
5,1 |
0,5 |
2,6 |
3,4 |
-0,2 |
0,0 |
0,2 |
Mỹ Latinh và Caribê |
7,2 |
3,9 |
2,2 |
2,3 |
2,5 |
0,7 |
0,3 |
-0,1 |
Brazil |
5,0 |
2,9 |
3,1 |
1,5 |
2,2 |
1,9 |
0,1 |
-0,2 |
Mêhicô |
5,8 |
3,9 |
3,6 |
2,6 |
2,1 |
1,1 |
0,7 |
0,1 |
Argentina |
10,7 |
5,0 |
-2,5 |
2,7 |
3,2 |
-0,5 |
0,4 |
1,2 |
Trung Đông và Bắc Phi |
3,8 |
5,8 |
1,9 |
3,5 |
3,5 |
-0,3 |
0,2 |
0,5 |
A rập Xê út |
3,9 |
8,7 |
-0,5 |
4,1 |
4,2 |
-2,7 |
0,8 |
1,7 |
Iran |
4,7 |
3,8 |
4,2 |
3,7 |
3,2 |
2,0 |
1,7 |
1,3 |
Ai cập |
3,3 |
6,6 |
3,8 |
3,5 |
3,9 |
-0,2 |
-0,5 |
-0,8 |
Nam Á |
8,3 |
5,9 |
5,7 |
5,6 |
5,9 |
-0,2 |
0,5 |
-0,5 |
Ấn Độ |
9,1 |
7,2 |
6,3 |
6,4 |
6,5 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Pakistan |
6,9 |
7,1 |
6,0 |
5,6 |
5,8 |
0,8 |
-0,6 |
-0,6 |
Bangladesh |
5,8 |
6,2 |
-0,2 |
1,7 |
2,4 |
-0,6 |
-0,3 |
-0,6 |
Cận Sahara châu Phi |
4,4 |
3,7 |
2,9 |
3,8 |
4,1 |
-0,3 |
-0,1 |
0,1 |
Nigeria |
3,6 |
3,3 |
2,9 |
3,3 |
3,7 |
0,1 |
0,3 |
0,6 |
CH Nam Phi |
4,7 |
1,9 |
0,7 |
1,3 |
1,5 |
0,4 |
-0,2 |
-0,1 |
Angola |
1,2 |
3,0 |
0,5 |
2,8 |
3,1 |
-2,1 |
-0,5 |
0,0 |
Các nước thu nhập cao |
5,5 |
2,8 |
1,5 |
1,3 |
1,8 |
0,7 |
0,0 |
-0,5 |
EMDEs thu nhập trung bình |
7,2 |
3,4 |
4,3 |
4,0 |
4,0 |
0,1 |
0,0 |
-0,1 |
EMDEs trừ Trung Quốc |
6,0 |
4,2 |
3,2 |
3,5 |
3,8 |
0,3 |
0,1 |
0,0 |
Các nước thu nhập thấp |
4,2 |
4,8 |
3,5 |
5,5 |
5,6 |
-1,7 |
-0,5 |
-0,4 |
EMDEs xuất khẩu |
5,2 |
3,2 |
2,5 |
2,9 |
3,1 |
0,6 |
0,1 |
0,2 |
EMDEs nhập khẩu: |
7,9 |
3,9 |
4,8 |
4,4 |
4,4 |
-0,2 |
0,0 |
-0,1 |
Nếu không tính Trung Quốc |
7,2 |
5,3 |
4,2 |
4,2 |
4,5 |
0,0 |
0,0 |
-0,3 |
Các nước mới nổi (3) |
7,8 |
3,3 |
4,9 |
4,1 |
4,1 |
0,2 |
0,0 |
-0,1 |
GDP toàn cầu tính theo PPP (4) |
6,4 |
3,3 |
3,0 |
2,9 |
3,1 |
0,3 |
0,0 |
-0,3 |
Thương mại toàn cầu (5) |
11,1 |
5,6 |
0,2 |
2,3 |
3,1 |
-1,5 |
-0,5 |
0,1 |
Giá cả hàng hóa (6) |
100,9 |
142,5 |
108,4 |
104,9 |
102,2 |
-1,0 |
-3,7 |
-7,6 |
Chỉ số giá năng lượng |
95,4 |
152,6 |
107,5 |
103,4 |
100,0 |
-1,4 |
-5,7 |
-11,0 |
Giá dầu Brent (USD/thùng) |
70,9 |
99,8 |
83,1 |
81,0 |
78,0 |
3,1 |
-1,0 |
-6,4 |
Giá hàng hóa khác |
112,1 |
122,1 |
110,2 |
107,7 |
106,6 |
-0,2 |
0,2 |
-0,9 |
Nguồn: WB tháng 01/2024
Sau khi chạm đáy 1,2% trong năm 2024, kinh tế AEs sẽ phục hồi lên mức tăng 1,6% vào năm 2025, nguyên nhân cơ bản là do kinh tế khu vực đồng euro tiếp tục phục hồi và kinh tế Mỹ tiếp tục quỹ đạo tăng trưởng cao trong dài hạn theo xu hướng giảm lãi suất và lạm phát cùng với sự hỗ trợ của chính sách tiền tệ.
Tại EMDEs, kinh tế hai năm 2024-2025 được dự báo tăng trung bình 3,9%. Trong đó, kinh tế Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng thấp, nguyên nhân là do tiêu dùng trầm lắng và khó khăn vẫn bủa vây lĩnh vực bất động sản. Nếu không tính Trung Quốc, GDP tại EMDEs sẽ tăng từ kết quả tăng trung bình 3,2% trong năm 2023 lên 3,5% trong năm 2024 và 3,8% vào năm 2025. Đà tăng này phản ánh triển vọng phục hồi thương mại và cải thiện nhu cầu trong nước tại một số nền kinh tế lớn, khi lạm phát tiếp tục hạ nhiệt. Tuy nhiên, chi phí vay vốn tăng cao sẽ tiếp tục thu hẹp dư địa tài khóa tại EMDEs, trong bối cảnh lợi suất trái phiếu nợ phát hành dưới dạng USD khá cao so với tốc độ tăng GDP tại nhiều nước, nhất là những nước có mức tín nhiệm thấp. Mặc dù GDP tại các nước thu nhập thấp được dự báo sẽ tăng vững theo đà phục hồi từ năm 2020, nhưng bạo động và bất ổn chính trị trong năm 2023 sẽ cản trở hoạt động kinh tế tại một số quốc gia.
Tại khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (EAP), GDP được dự báo sẽ giảm tốc từ kết quả tăng 5,1% trong năm 2023 xuống mức tăng 4,5% trong năm nay và 4,4% vào năm 2025, chủ yếu là do hoạt động kinh tế tiếp tục trầm lắng tại Trung Quốc. Trong bối cảnh lĩnh vực bất động sản chưa thoát khỏi khó khăn, nên kinh tế Trung Quốc được dự báo sẽ giảm tốc từ kết quả tăng 5,2% trong năm 2023 xuống mức tăng 4,5% trong năm nay và 4,3% vào năm 2025. Tại những quốc gia khác trong khu vực, GDP dự kiến sẽ tăng tốc từ kết quả tăng 4,4% trong năm 2023 lên mức tăng 4,7% trong năm 2024 và năm 2025, chủ yếu là nhờ nhu cầu trong nước tăng cao.
Cũng như toàn thế giới, kinh tế EAP vẫn đối mặt với rủi ro tăng trưởng thấp, nếu tình hình kinh tế Trung Quốc xấu hơn so với dự báo, khi đó khó khăn sẽ lan truyền sang những quốc gia còn lại trong khu vực. Cụ thể là, hoạt động công nghiệp yếu ớt tại Trung Quốc sẽ lan truyền tác động tiêu cực đến nhu cầu và các hoạt động kinh tế EAP, nhất là những quốc gia đối tác thương mại lớn như Việt Nam, Malaysia. Những rủi ro khác bao gồm, nhu cầu chi tiêu và thương mại toàn cầu yếu hơn so với kỳ vọng, căng thẳng địa chính trị tiếp tục leo thang tại Trung Đông, các hiện tượng thời tiết cực đoan.
Về tổng thể, tốc độ phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19 tại EMDEs có vẻ khiêm tốn, phản ánh tác động tiêu cực từ xu hướng thắt chặt tài chính toàn cầu, chính sách tiền tệ thắt chặt đột ngột, thương mại toàn cầu phục hồi chậm chạp, kinh tế Trung Quốc giảm tốc, xung đột vũ trang leo thang. Tốc độ phục hồi kinh tế chậm chạp cũng cho thấy xu hướng giảm tốc tăng trưởng kinh tế tiềm năng tại EMDEs, kể cả Trung Quốc do hoạt động đầu tư sụt giảm và năng suất tăng chậm, dân số già hóa, lợi ích đối với tăng trưởng kinh tế bắt nguồn từ các nỗ lực cải thiện y tế và giáo dục có xu hướng giảm dần.
Do thu nhập tổng thể tại EMDEs sẽ tiếp tục xu hướng tăng thấp hơn so với trước đại dịch, điều này sẽ hạn chế tiến triển đồng quy thu nhập theo đầu người so với tại AEs, ngoại trừ Trung Quốc và Ấn Độ (hai quốc gia đạt tốc độ tăng trưởng tương đối cao trong giai đoạn 2019-2025). Tại những EMDEs dễ bị tổn thương, thu nhập bình quân đầu người được dự báo sẽ thấp hơn mức trước đại dịch, bao gồm trên 1/3 số quốc gia thuộc nhóm LICs và ½ số quốc gia yếu kém và rối loạn do xung đột vũ trang.
Nhìn chung, rủi ro tăng trưởng thấp vẫn chi phối triển vọng kinh tế toàn cầu, mặc dù có dấu hiệu cân bằng hơn kể từ tháng 6/2023. Xung đột vũ trang gần đây tại Trung Đông và chiến tranh kéo dài tại Ukraina đã trầm trọng thêm rủi ro địa chính trị, và bất ổn sẽ gia tăng nếu những xung đột này tiếp tục leo thang hoặc căng thẳng địa chính trị bùng phát tại những nơi khác trên thế giới.
Ngoài ra phải kể đến hàng loạt diễn biến khó lường khác, bao gồm kịch bản lạm phát tại AEs không giảm thêm, buộc các NHTW phải tiếp tục tăng lãi suất, hoặc gia tăng phần bù kỳ hạn đối với lợi suất trái phiếu. Hệ quả là, thui chột động lực kinh doanh trên các thị trường tài chính toàn cầu và thắt chặt đột ngột điều kiện tài chính, gây tác động đối ngược đến EMDEs. Trong trường hợp kinh tế Trung Quốc tăng thấp hơn so với kỳ vọng, hoạt động kinh tế toàn cầu sẽ giảm sâu. Nếu trao đổi thương mại và mạng lưới đầu tư toàn cầu tiếp tục phân hóa, hoặc các nước tiếp tục tăng cường các rào cản thương mại, kinh tế toàn cầu sẽ trở nên trầm trọng hơn mặc dù đang đối mặt với triển vọng tăng trưởng thụt lùi. Trong khi đó, các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra thường xuyên hơn và gây tác động ngày càng trầm trọng.
Trong tình hình khó khăn hiện nay, các nước cần tập trung các nỗ lực chính sách về xử lý nợ và biến đổi khí hậu, hỗ trợ những đối tượng bị ảnh hưởng về an ninh lương thực. Trước những dấu hiệu gia tăng xu hướng sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại và chia cắt thị trường thế giới, vấn đề thúc đẩy thương mại quốc tế cần được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu. Đối với EMDEs, các nhà tạo lập chính sách cần tập trung nỗ lực cân bằng giữa đảm bảo tính bền vững tài khóa và hỗ trợ có mục tiêu đối với những hộ gia đình dễ bị tổn thương, trong khi vẫn phải đáp ứng nhu cầu đầu tư cần thiết. Đây là thách thức rất lớn, do năng lực tài khóa yếu ớt, trong khi nợ công và chi phí dịch vụ nợ tăng cao, chính sách tiền tệ thắt chặt hay lợi suất trái phiếu chính phủ tăng cao tại AEs có thể buộc EMDEs kéo dài chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm ngăn ngừa xu hướng đào thoát dòng vốn và áp lực tiền tệ. Để thực hiện các mục tiêu phát triển và thúc đẩy triển vọng tăng trưởng dài hạn, cần có các giải pháp chính sách hiệu quả để mở rộng đầu tư.
Xuân Thanh
Nguồn tham khảo: WB tháng 01/2024