Dư nợ nước ngoài của LMICs tính đến năm 2022
So với năm 2021, dư nợ nước ngoài năm 2022 của LMICs giảm 3,4%, từ 9,3 nghìn tỷ USD xuống 9,0 nghìn tỷ USD, lần đầu tiên kể từ năm 2015. Tuy nhiên, dư nợ nước ngoài năm 2022 của các nước đủ tư cách vay vốn từ Hiệp hội Phát triển quốc tế (IDA) tăng 2,7% lên 1,1 nghìn tỷ USD, mức cao nhất trong mọi thời đại.
Mặc dù giảm nhẹ trong năm 2022, dư nợ nước ngoài của LMICs vẫn đứng ở mức cao chưa từng thấy sau hơn một thập kỷ đẩy mạnh vay nợ. Yếu tố chủ yếu dẫn đến kết quả giảm nợ trong năm 2022 bắt nguồn từ các động thái điều chỉnh tỷ giá giữa các loại đồng tiền cho vay khi USD tăng giá.
Do USD tăng cao so với CNY (9,0%), JPY (14%), EUR (6,0%), SDR (5%), GBP và nhiều đồng tiền khác, dư nợ dưới dạng những đồng tiền này đã giảm phần nào khi chuyển đổi sang USD, trong khi những đồng tiền này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng dư nợ IDA. Mặc dù USD tăng giá đã góp phần giảm bớt nợ danh nghĩa của LMICs khi chuyển đổi IDA sang USD, nhưng gánh nặng nợ nần vẫn không giảm. Đối với các quốc gia vay nợ, chi phí dịch vụ nợ sẽ tăng cao, nếu đồng bản tệ cũng mất giá so với đồng tiền của bên cho vay.
Tính đến cuối năm 2022, nợ nước ngoài của Trung Quốc chiếm trên ¼ (26,6%) trong tổng dư nợ của LMICs. Năm 2022, nợ nước ngoài của Trung Quốc giảm 11,6% xuống 2,4 nghìn tỷ USD. Nếu không tính Trung Quốc, nợ nước ngoài năm 2022 của LMICs nhìn chung không thay đổi, thậm chí lập kỷ lục mới 6,6 nghìn tỷ USD, cao hơn một chút so với cuối năm 2021, mặc dù đà tăng có vẻ chậm lại (chỉ tăng 0,04%). Trong nhóm LMICs, nợ nước ngoài tập trung tại 10 quốc gia thu nhập trung bình (không tính Trung Quốc), chiếm 43% tổng dư nợ của LMICs tính đến cuối năm 2022. Trong năm 2022, nợ nước ngoài của 10 quốc gia này giảm 1,8%, nhưng có sự khác biệt rất lớn, từ mức giảm 7% tại Colombia lên mức giảm 20,3% tại CHLB Nga.
Về dư nợ nước ngoài dài hạn, nếu không tính Trung Quốc, nợ công và nợ bảo lãnh (PPG) năm 2022 (bao gồm việc sử dụng vốn vay từ IMF và phân bổ SDR) của LMICs giảm 1,0% xuống 3,3 nghìn tỷ USD, chiếm 51% tổng dư nợ nước ngoài. Liên quan đến nợ nước ngoài của khu vực tư nhân, nợ dài hạn không bảo lãnh (PNG) giảm 2,6% xuống 2,1 nghìn tỷ USD, tương đương 33% tổng dư nợ nước ngoài. Cả nợ PPG và PNG đều chịu tác động của điều kiện tài chính thắt chặt trên toàn cầu. Trong thập kỷ trước, nợ nước ngoài PPG tăng từ tỷ trọng 42% vào cuối năm 2012 lên 51% vào cuối năm 2022. Trong khi đó, dư nợ PNG chịu tác động bắt nguồn từ tình trạng bất ổn toàn cầu, và giảm từ tỷ trọng 40% xuống 33%. Trong năm 2022, nợ ngắn hạn của LMICs tăng 9,7% lên 1,1 nghìn tỷ USD.
Nợ nước ngoài dài hạn PPG của LMICs (không tính Trung Quốc) giảm được bù đắp phần nào nhờ sự bền vững của các chủ nợ đa phương, những khoản cho vay từ những chủ nợ này đã tăng 4,0% lên 1,2 nghìn tỷ USD vào cuối năm 2022. Theo thời gian, các chủ nợ đa phương ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA.
Xu hướng nợ nước ngoài của các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA 2012-2022
Trong năm 2022, dư nợ nước ngoài của các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA tăng 2,7% lên 1,1 nghìn tỷ USD, tăng trên 2 lần so với năm 2012. Dư nợ PPG (kể cả nợ vay từ IMF) tăng 1,7% trong năm 2022 lên 728 tỷ USD, trong khi nợ PNG tăng tới 4,1% lên 225 tỷ USD. Từ triển vọng các chủ nợ, trong cơ cấu nợ PPG dài hạn của các các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA, các chủ nợ đa phương chiếm 50%, các chủ nợ song phương chiếm 29%, các chủ nợ tư nhân chiếm 21%; trong khi cơ cấu này trong năm 2012 lần lượt là 56%, 33%, và 10%. Trong tổng dư nợ PPG của các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA, tỷ trọng của các các chủ nợ đa phương giảm từ 56% trong năm 2012 xuống 45% vào năm 2019, trước khi tăng trở lại trong mùa dịch Covid-19. Trong năm 2022, WB đóng góp 42% tổng dư nợ đa phương dành cho các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA.
Trong những năm gần đây, khi kinh tế toàn cầu chao đảo, các chủ nợ đa phương đóng vai trò người cho vay cuối cùng rất quan trọng, trong khi cho vay từ những chủ nợ khác không thay đổi hoặc giảm dần. Trong năm 2022, dư nợ PPG từ các chủ nợ đa phương tăng 4,9% lên 362,5 tỷ USD, các chủ nợ song phương giảm nhẹ 0,4% xuống 213 tỷ USD, cho vay từ khu vực tư nhân đối với khách hàng vay công và tư thuộc các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA tăng 1,2% lên 377,4 tỷ USD. Kết quả tăng này chủ yếu bắt nguồn từ tín dụng của các NHTM và những chủ nợ tư nhân khác, với mức tăng 2,2% lên 279,1 tỷ USD trong năm 2022, trong khi dư nợ cho vay phát hành trái phiếu từ các chủ nợ giảm 1,5% xuống 98,3 tỷ USD.
Dư nợ nước ngoài của các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA 2012-2022 (tỷ USD)
|
2012 |
2013 |
2014 |
2015 |
2016 |
2017 |
2018 |
2019 |
2020 |
2021 |
2022 |
Tổng dư nợ |
457,9 |
512,1 |
556,1 |
597,0 |
634,4 |
735,0 |
786,3 |
857,0 |
049,8 |
1.042,1 |
1.070,5 |
Nợ dài hạn |
401,8 |
450,2 |
494,4 |
534,6 |
572,1 |
652,9 |
706,2 |
762,9 |
856,7 |
932,3 |
953,1 |
Chủ nợ chính thức |
257,5 |
288,9 |
298,6 |
313,5 |
331,0 |
374,0 |
401,0 |
438,6 |
507,9 |
559,5 |
575,8 |
Chủ nợ song phương |
102,6 |
109,9 |
118,6 |
128,0 |
137,8 |
154,6 |
170,6 |
185,4 |
203,8 |
214,0 |
213,2 |
Chủ nợ đa phương |
172,9 |
179,0 |
180,0 |
185,5 |
193,2 |
219,5 |
230,4 |
253,2 |
304,1 |
345,5 |
362,5 |
WB (IBRD and IDA) |
72,5 |
78,0 |
80,0 |
83,3 |
87,3 |
100,4 |
107,2 |
118,4 |
136,9 |
143,7 |
152,3 |
IMF (tín dụng và SDR) |
33,5 |
31,3 |
29,2 |
29,5 |
29,7 |
31,9 |
31,4 |
32,9 |
50,0 |
79,7 |
79,4 |
Chủ nợ tư nhân |
126,3 |
161,3 |
195,8 |
221,1 |
241,1 |
278,9 |
305,3 |
324,3 |
348,8 |
372,8 |
377,4 |
Trái phiếu |
11,5 |
18,2 |
33,8 |
41,1 |
46,0 |
60,0 |
73,3 |
80,7 |
84,8 |
99,8 |
98,3 |
NHTM và tư nhân khác |
114,8 |
143,1 |
162,0 |
180,0 |
195,0 |
218,9 |
232,0 |
243,7 |
264,0 |
273,0 |
279,1 |
Nợ ngắn hạn |
56,1 |
61,9 |
61,7 |
62,4 |
62,3 |
82,1 |
80,0 |
94,1 |
93,1 |
109,8 |
117,4 |
PPG dài hạn |
306,3 |
331,5 |
356,9 |
382,4 |
405,2 |
470,1 |
515,3 |
564,6 |
646,8 |
716,2 |
728,1 |
PNG dài hạn |
95,5 |
118,6 |
137,5 |
152,2 |
166,9 |
182,8 |
190,9 |
198,3 |
209,9 |
216,1 |
225,0 |
Nguồn: WB tháng 12/2023
Do các cú sốc liên tiếp như đại dịch Covid-19, cuộc chiến tại Ukraina, các hiện tượng thời tiết cực đoan, lạm phát và lãi suất tăng cao, môi trường kinh tế vĩ mô bất ổn trên toàn cầu, mức độ tổn thương bắt nguồn từ gánh nặng nợ nần có xu hướng tăng cao, và ngày càng nhiều LMICs phải tìm cách tái cơ cấu nợ vay từ các chủ nợ nước ngoài. Trong năm 2022, nhiều quốc gia yêu cầu hoặc tiến hành đàm phán tái cơ cấu nợ theo Khung khổ Chung của các nước G20 hoặc Câu lạc bộ Paris, hoặc với các chủ nợ nắm giữ trái phiếu. Giống như Câu lạc bộ Paris, Khung khổ Chung bao gồm cách tiếp cận theo từng trường hợp để xử lý nợ quốc gia với sự hỗ trợ và phối hợp của tất cả các chủ nợ song phương.
Nợ nước ngoài của Việt Nam (triệu USD)
Dữ liệu tóm tắt nợ nước ngoài |
2010 |
2018 |
2019 |
2020 |
2021 |
2022 |
Tổng dư nợ |
45.022 |
112.588 |
112.454 |
129.435 |
139.812 |
146.589 |
Dư nợ dài hạn |
37.560 |
92.566 |
97.621 |
102.378 |
104.592 |
106.545 |
Nợ PPG |
32.805 |
56.585 |
55.782 |
55.608 |
51.334 |
46.427 |
Chủ nợ chính thức |
27.320 |
47.790 |
47.779 |
49.141 |
45.755 |
41.533 |
- Chủ nợ đa phương |
12.573 |
23.719 |
24.068 |
25.339 |
24.615 |
23.331 |
Trong đó: WB |
7.743 |
14.968 |
15.327 |
16.378 |
16.008 |
15.109 |
- Nợ song phương |
14.746 |
24.071 |
3.711 |
23.802 |
21.141 |
18.222 |
- Chủ nợ tư nhân |
5.485 |
8.795 |
8.003 |
6.467 |
5.578 |
4.894 |
Cho vay phát hành trái phiếu |
2.020 |
1.511 |
1.506 |
756 |
751 |
746 |
NHTM và tư nhân khác |
3.465 |
7.284 |
6.497 |
5.711 |
4.827 |
4.148 |
Nợ PNG |
4.755 |
35.980 |
41.839 |
46.771 |
53.258 |
60.118 |
Cho vay phát hành trái phiếu |
|
35 |
1.014 |
1.094 |
1.444 |
1.769 |
NHTM và tư nhân khác |
4.755 |
35.945 |
40.825 |
45.677 |
51.814 |
58.349 |
Tín dụng IMF và phân bổ SDR |
529 |
438 |
435 |
453 |
1.987 |
1.890 |
Dư nợ ngắn hạn |
6.932 |
19.585 |
24.397 |
26.604 |
33.233 |
38.154 |
Vốn giải ngân, dài hạn |
6.965 |
20.775 |
18.624 |
17.323 |
23.264 |
28.471 |
Thanh toán nợ gốc, dài hạn |
1.055 |
15.225 |
13.607 |
14.386 |
18.777 |
23.488 |
Thanh toán lãi suất, dài hạn |
699 |
2.929 |
2.934 |
2.019 |
1.594 |
2.016 |
Nguồn: WB tháng 12/202
Kể từ khi thiết lập Khung khổ Chung G20 vào năm 2020, bốn quốc gia yêu cầu xử lý nợ theo khung khổ này, bao gồm: Chad, Ethiopia, Ghana, và Zambia. Chad là quốc gia đầu tiên đàm phán với các chủ nợ song phương vào tháng 10/2022, không lâu sau đó với các chủ nợ tư nhân, kể cả Glencore PLC. Thỏa thuận với các chủ nợ tư nhân đã gia hạn khoản nợ 1 tỷ USD lên 12 năm, bao gồm 2 năm ân hạn với lãi suất ưu đãi. Ghana và Zambia đề nghị giảm nợ nước ngoài sau khi không trả được nợ vay phát hành trái phiếu. Trong năm 2023, Zambia đã đạt được thỏa thuận quan trọng với các chủ nợ song phương (bao gồm Trung Quốc) để tái cơ cấu khoản nợ 6,3 tỷ USD, mở đường cho phương pháp tái cơ cấu nợ vay 3 tỷ USD phát hành trái phiếu theo hướng đàm phán chính thức.
Tại Câu lạc bộ Paris, Argentina and Suriname đã đạt được thỏa thuận tái cơ cấu nợ (lần lượt vào tháng 10 và tháng 6/2022), và Sri Lanka đang trong quá trình đàm phán với các chủ nợ (chủ yếu với Trung Quốc và Ấn Độ và chủ nợ đang nắm giữ trái phiếu).
Chi phí dịch vụ nợ, 2012-2022
Mặc dù nợ nước ngoài lũy kế của LMICs tăng cao trong thập kỷ qua, nhưng chế độ lãi suất thấp (kéo dài đến năm 2021) đã kéo giảm chi phí lãi vay xuống mức tương đối thấp và ổn định so với tổng thu nhập quốc dân (GNI). Đối với tất cả LMICs, chi phí lãi vay trên tổng dư nợ chỉ tăng nhẹ, từ 0,79% so GNI vào năm 2012 lên 0,83% vào năm 2022. Tuy nhiên, một phần nguyên nhân của sự ổn định này là do kinh tế Trung Quốc tăng cao trong nhiều năm liên tiếp. Nếu không tính Trung Quốc, chi phí lãi vay so GNI tăng từ 0,94% vào năm 2012 lên 1,33% vào năm 2019, sau đó giảm xuống 1,06% vào năm 2022.
Các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA ghi nhận chi phí lãi suất tăng đáng kể, từ 0,35% GNI vào năm 2012 lên 0,89% vào năm 2019, nguyên nhân là do nợ lũy kế và nợ vay từ các chủ nợ tư nhân đều tăng cao. Trong hai năm 2020-2021, chi phí lãi vay giảm xuống mức trung bình 0,76% GNI nhờ được hoãn trả lãi suất Theo Sáng kiến Hoãn Dịch vụ nợ, nhưng tăng trở lại lên 0,85% vào năm 2022. Nếu tính theo lãi suất danh nghĩa, chi phí lãi vay đối với các khoản nợ của các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA tăng gấp 4 lần từ năm 2012 lên 23,6 tỷ USD vào năm 2022.
Thanh toán lãi vay liên quan đến các khoản nợ của các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA chiếm khoảng 27% tổng chi phí dịch vụ nợ phải trả trong năm 2022, tăng 3% so với năm trước. Trong tương lai, tỷ trọng này sẽ tăng do dư nợ nước ngoài tăng 2,7% trong năm 2022 cộng với chi phí lãi vay phải trả sau thời gian ân hạn.
Đối với các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA, tổng dịch vụ nợ vay tăng 4,8% vào năm 2022 lên 88,9 tỷ USD. Nhờ doanh thu xuất khẩu năm 2022 tăng 17% lên 574,5 tỷ USD, nên tổng chi phí dịch vụ nợ so xuất khẩu giảm từ 17,3% vào năm 2021 xuống 15,5% vào năm 2022. Tuy nhiên, thanh toán lãi vay so xuất khẩu tăng nhẹ lên 4,1% vào năm 2022, gây áp lực về thanh khoản và khả năng thanh toán của nhóm quốc gia này.
Các chỉ số nợ trong giai đoạn 2012-2022
Trong năm 2022, xuất khẩu tăng cao và kinh tế phục hồi sau đại dịch đã góp phần cải thiện các chỉ số nợ của LMICs. Tuy nhiên, tổng dư nợ nước ngoài trong thập kỷ vừa qua đã vượt GNI của LMICs và thương mại toàn cầu, mặc dù đã phục hồi trở lại sau đại dịch Covid-19.
Trong năm 2022, GNI của LMICs tăng 5,8% lên 37,4 nghìn tỷ USD, tỷ trọng dư nợ nước ngoài so GNI của LMICs giảm 2,0% xuống 24%. Nếu không tính Trung Quốc, tỷ trọng nợ nước ngoài so GNI của LMICs giảm 3,6% xuống 33,5%. Đối với nhóm quốc gia này, yếu tố dẫn đến giảm nợ chỉ bắt nguồn đơn thuần từ kết quả tăng giá USD, làm tăng GNI 10,9% trong năm 2022 lên 19,6 nghìn tỷ USD từ 17,7 nghìn tỷ USD. Tuy nhiên, nếu không tính Trung Quốc, GNI của LMICs hầu như không thay đổi với 6,6 nghìn tỷ USD.
Mặc dù hoạt động kinh tế phục hồi từ năm 2020, nợ nước ngoài của LMICs trong thập kỷ qua đã vượt xa tốc độ tăng trưởng kinh tế, nếu không tính Trung Quốc. Nếu tính theo USD, GNI của LMICs trong giai đoạn 2012-2022 tăng trung bình 21%, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng dư nợ nước ngoài 46%. Hiện nay, khoảng 60% số quốc gia thuộc nhóm quốc gia đủ tư cách vay vốn từ IDA được đánh giá là đang gặp khó khăn trong việc hoàn trả nợ vay hoặc không còn khả năng trả nợ.
Theo đánh giá của WB, nợ nước ngoài của LICs tăng 109% trong giai đoạn 2012-2022, trong khi GNI chỉ tăng 33%. Đối với các nước thu nhập trung bình thấp, nợ nước ngoài tăng 89% và GNI tăng 48%. Đối với các nước thu nhập trung bình cao, không tính Trung Quốc, nợ nước ngoài tăng 28% và GNI tăng 7%. Đối với các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA, nợ lũy kế trong giai đoạn 2012-2022 tăng 134%, cao hơn nhiều so với GNI (tăng 53%). Đối với những nước chỉ vay vốn từ Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD), nợ nước ngoài có vẻ tăng chậm hơn. Nếu không tính Trung Quốc, nợ nước ngoài của những quốc gia này chỉ tăng 36% trong giai đoạn 2012-2022, trong khi GNI tăng 17%.
Giữa các khu vực cũng có sự khác biệt nhất định, châu Âu và Trung Á & Nam Á là hai khu vực có GNI tăng cao hơn nợ nước ngoài lũy kế. Trong thập kỷ qua, dư nợ tại châu Âu và Trung Á chỉ tăng 1,0%, trong khi GNI tăng 6,0%; dư nợ tại Nam Á tăng 73%, và GNI tăng 88%.
Trong thập kỷ qua, nợ nước ngoài tăng cao hơn GNI tới 99% tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi, tại khu vực Cận Sahara châu Phi tới 72%, khu vực Mỹ Latinh và Caribê tới 55%. Nợ nước ngoài tăng cao tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi và khu vực Mỹ Latinh và Caribê gắn liền với tốc độ kinh tế thu hẹp xuống mức tăng trưởng âm, dấy lên những lo ngại về mức độ tổn thương nợ nần trong bối cảnh lãi suất tăng cao. Tại Mỹ Latinh và Caribê, Brazil chiếm 32% tổng dư nợ và 42% GNI của khu vực này. Trong giai đoạn này, dư nợ nước ngoài của Brazil tăng 31%, và GNI tăng 23%. Tại Ecuador, dư nợ nước ngoài tăng 273%, trong khi GNI chỉ tăng 31%. Tại Suriname, dư nợ nước ngoài tăng 331%, và GNI chỉ tăng 31%. Trên 50% số quốc gia tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi có tốc độ tăng trưởng GNI âm hoặc gần bằng 0%, trong khi nợ nước ngoài tăng 28%. Tại Ai Cập, dư nợ nước ngoài tăng 307%, trong khi GNI chỉ tăng 69%. Tại Irắc, tốc độ tăng dư nợ nước vượt GNI tới 11%.
Tại LMICs, tỷ trọng nợ nước ngoài so doanh thu xuất khẩu trong năm 2022 cũng cho thấy bức tranh tương tự. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, và thu nhập cơ bản trong năm 2022 tăng 9,9% lên 10,1 nghìn tỷ USD - mức cao nhất từ trước đến nay. Nếu không tính Trung Quốc, doanh thu xuất khẩu còn tăng cao hơn, với mức tăng 16,7% lên 6,2 nghìn tỷ USD, trong khi dư nợ nước ngoài không thay đổi (6,6 nghìn tỷ USD). Kết quả là, tỷ trọng nợ nước ngoài so xuất khẩu ghi nhận hai năm giảm liên tiếp, xuống 107% vào năm 2022. Tuy nhiên, cần diễn giải tỷ trọng giảm này một cách thận trọng, do nó đang che giấu chi phí dịch vụ nợ tăng cao khi USD tăng giá cũng như sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm quốc gia và từng quốc gia riêng rẽ. Tại các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA, tỷ trọng nợ nước ngoài so xuất khẩu trong năm 2022 giảm trung bình 26% xuống 186%. Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, tỷ lệ này tăng 78%, chất thêm áp lực lên khả năng bền vững nợ nần. Trong giai đoạn 2012-2022, nợ nước ngoài của các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA tăng 134%, vượt xa tốc độ tăng xuất khẩu 36%. Đối với các nước chỉ vay vốn từ IBRD (không tính Trung Quốc), tỷ lệ nợ nước ngoài so xuất khẩu vào đầu thập kỷ này đứng ở mức 99%, thấp 10% so với tỷ lệ tương ứng của các nước đủ tư cách vay vốn từ IDA. Trong giai đoạn 2012-2022, nợ nước ngoài và xuất khẩu của các nước chỉ vay vốn từ IBRD cùng tăng 37%.
Nếu đánh giá các nước theo nhóm thu nhập, chênh lệch giữa tổng dư nợ nước ngoài và xuất khẩu tại LICs trong giai đoạn 2012-2022 lên tới 59%. Trong năm 2022, dư nợ nước ngoài so xuất khẩu tại nhóm quốc gia này đứng ở mức 210%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 151% vào năm 2012. Trong thập kỷ qua, số quốc gia thuộc LICs có tỷ lệ nợ nước ngoài so xuất khẩu vượt 300% tăng từ 2 quốc gia lên 8 quốc gia vào năm 2022 (Burundi, Gambia, Guinea-Bissau, Mozambique, Niger, Rwanda, Sudan, Uganda). Trong năm 2022, dư nợ nước ngoài so xuất khẩu tại các nước thu nhập trung bình thấp đứng ở mức 105%, cao hơn so với tỷ lệ 24% vào năm 2012. Trong số này, tỷ lệ nợ nước ngoài so xuất khẩu cao nhất tại Lebanon (414%) và Senegal (467%). Trong năm 2022, dư nợ nước ngoài so xuất khẩu tại các nước thu nhập trung bình cao (không tính Trung Quốc) đứng ở mức 105%, và là nhóm quốc gia duy nhất có kim ngạch xuất khẩu vượt tổng dư nợ nước ngoài tới 5%. Trong thập kỷ qua, Bosnia & Herzegovina, Grenada, và Serbia đều giảm được tỷ lệ nợ nước ngoài so xuất khẩu trên 100%. Trái lại, tỷ lệ này lại tăng trên 100% tại Colombia, Ecuador, và Suriname.
Xu hướng nợ nước ngoài giai đoạn 2012-2022
Trong năm 2022, tổng nợ ròng (vốn giải ngân trừ thanh toán nợ gốc) đổ vào LMICs chuyển sang trạng thái âm và bắt đầu đảo chiều ra ngoài, chủ yếu là do dòng vốn bị thu hẹp, cả đối với dòng vốn vào ngắn hạn và dài hạn, đây là lần đầu tiên kể từ đầu thế kỷ XXI này. Trong năm 2022, LMICs ghi nhận dòng vốn ra ròng 185 tỷ USD, thu hẹp đáng kể so với dòng vốn vào ròng 556 tỷ USD trong năm 2021. Trong năm 2022, dòng tài chính này chịu áp lực từ các yếu tố tác động đến kinh tế toàn cầu.
Sự đảo ngược này là tác nhân thu hẹp các dòng nợ ngắn hạn và dài hạn. Dòng nợ dài hạn chao đảo từ lượng vốn vào ròng 264,3 tỷ USD trong năm 2021 sang lượng vốn ra ròng 94,5 tỷ USD trong năm 2022. Dòng nợ ngắn hạn cũng thu hẹp và chuyển sang vị thế âm, từ lượng vốn vào ròng 291,4 tỷ trong năm 2021 sang lượng vốn ra ròng 90,6 tỷ USD trong năm 2022.
Sự sụt giảm ròng của dòng vốn dài hạn hoàn toàn bắt nguồn từ sự suy giảm dòng vốn vào của các chủ nợ tư nhân, phản ánh khó khăn của các nước trong việc phát hành trái phiếu, cũng như xu hướng thắt chặt tín dụng ngân hàng và tư nhân khác. Trong năm 2022, dòng vốn vào để cho vay phát hành trái phiếu chuyển sang vị thế âm, với lượng vốn ra ròng 127,1 tỷ USD, trong khi dòng vốn vào ròng trong năm 2021 đạt 140,6 tỷ USD. Dòng vốn của các NHTM và tư nhân khác cũng đảo chiều, từ lượng vốn vào ròng 61 tỷ USD trong năm 2021 sang dòng vốn ra ròng 62,4 tỷ USD trong năm 2022.
Trung Quốc là trung tâm của quỹ đạo nợ này, khi chiếm tới 73% nợ ròng đổ vào LMICs. Đến cuối năm 2022, dư nợ nước ngoài của Trung Quốc giảm sâu. Nợ ròng thu hẹp từ dòng vốn vào 344,7 tỷ USD trong năm 2021 sang dòng vốn ra 296,8 tỷ USD trong năm 2022, dẫn đầu là dòng nợ ngắn hạn đảo chiều ra tới 181 tỷ USD, và nợ dài hạn vay từ các chủ nợ tư nhân (đảo chiều ra 114,2 tỷ USD) trong năm 2022.
Nợ ròng đổ vào LMICs, 2012-2022 (tỷ USD)
|
2012 |
2013 |
2014 |
2015 |
2016 |
2017 |
2018 |
2019 |
2020 |
2021 |
2022 |
Nợ vào ròng |
612,5 |
825,9 |
514,8 |
-323,1 |
230,9 |
771,4 |
569,4 |
369,0 |
380,4 |
555,7 |
-185,0 |
Nợ dài hạn |
488,6 |
465,6 |
406,0 |
177,3 |
279,3 |
438,1 |
356,6 |
334,9 |
373,3 |
264,3 |
-94,5 |
Chủ nợ chính thức |
35,6 |
33,0 |
51,9 |
55,9 |
58,4 |
59,2 |
83,7 |
64,7 |
123,7 |
62,7 |
95,0 |
Chủ nợ song phương |
16,4 |
23,8 |
24,5 |
14,3 |
17,3 |
23,1 |
20,0 |
6,1 |
12,2 |
11,3 |
13,6 |
Chủ nợ đa phương |
19,2 |
9,2 |
27,4 |
41,6 |
41,2 |
36,1 |
63,7 |
58,6 |
111,5 |
51,4 |
81,4 |
WB (IBRD and IDA) |
12,0 |
13,3 |
14,7 |
17,9 |
15,3 |
12,5 |
14,8 |
19,3 |
26,5 |
20,5 |
27,8 |
IMF (tín dụng và SDR) |
-6,4 |
-11,7 |
-2,1 |
7,2 |
6,4 |
4,4 |
30,7 |
20,9 |
44,8 |
1,1 |
14,0 |
Chủ nợ tư nhân |
453,0 |
432,6 |
354,0 |
121,5 |
220,9 |
378,9 |
272,9 |
270,0 |
249,6 |
201,6 |
-189,4 |
Trái phiếu |
220,4 |
166,3 |
165,8 |
73,2 |
121,1 |
291,2 |
199,1 |
235,5 |
229,1 |
140,6 |
-127,1 |
NHTM và tư nhân khác |
232,6 |
266,2 |
188,3 |
48,3 |
99,8 |
87,7 |
73,8 |
34,7 |
20,6 |
61,0 |
-62,4 |
Nợ ngắn hạn |
123,9 |
360,3 |
135,9 |
-500,4 |
-48,4 |
333,4 |
212,8 |
34,1 |
7,1 |
291,4 |
-90,6 |
PPG dài hạn |
219,5 |
211,3 |
201,5 |
116,6 |
139,8 |
279,7 |
246,3 |
213,9 |
257,0 |
179,5 |
50,6 |
PNG dài hạn |
269,1 |
254,2 |
204,5 |
60,7 |
139,5 |
158,3 |
110,3 |
121,0 |
116,3 |
84,8 |
-145,1 |
Nguồn: WB tháng 12/2023
Nếu không tính Trung Quốc, nợ ròng đổ vào LMICs trong năm 2022 giảm 47% xuống 111,8 tỷ USD. Sự sụt giảm này bắt nguồn chủ yếu từ mức giảm 84% dòng nợ dài hạn từ 129,6 tỷ USD trong năm 2021 xuống 21,3 tỷ USD trong năm 2022, và được bù đắp phần nào nhờ dòng vốn vào ngắn hạn tăng tới 11% lên 90,5 tỷ USD. Như vậy, nợ dài hạn ròng đổ vào LMICs ghi nhận mức thấp nhất kể từ năm 2002. Nợ dài hạn ròng để cho vay không bảo lãnh đối với khách hàng tư nhân thông qua phát hành trái phiếu và tín dụng NHTM phản ánh mức độ giảm sâu tới 184%, sang trạng thái âm 33,5 tỷ USD vào năm 2022. Nợ dài hạn ròng để cho vay đối với khu vực công có vẻ ổn định hơn, chỉ giảm 39% xuống 54,8 tỷ USD vào năm 2022, do lượng trái phiếu phát hành và tín dụng ngân hàng đều giảm.
Giữa các nước, xu hướng đảo chiều dòng vốn trong năm 2022 có sự khác biệt đáng kể. Trong năm 2022, tổng cộng 59 tỷ USD dòng vốn ròng dài hạn rời khỏi khách hàng vay PNG tại Thái Lan và CHLB Nga, trong khi Brazil ghi nhận dòng vốn vào 27 tỷ USD. Liên quan đến dòng vốn vào để cho vay đối với các khách hàng thuộc khu vực công, CHLB Nga ghi nhận dòng vốn ra trên 40 tỷ USD, trái lại Mêhicô ghi nhận dòng vốn vào 11,2 tỷ USD.
Nguyên nhân cơ bản dẫn đến xu hướng giảm dòng nợ dài hạn là do lượng trái phiếu phát hành giảm mạnh trong năm 2022 (cả khách hàng vay vốn thuộc khu vực công và tư nhân), do lãi suất và rủi ro đầu tư tăng cao trên toàn cầu.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn tham khảo: WB tháng 12/2023