Theo thống kê từ NHNN, mức độ nhận thức của các ngân hàng trong việc thúc đẩy nguồn vốn tín dụng xanh đã tăng đáng kể trong 5 năm trở lại đây. Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) cho biết, đến hết tháng 6/2023, dư nợ cấp tín dụng xanh mới đạt gần 528.300 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khoảng 4,2% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Hiện tại, đã có 40 TCTD báo cáo có tài trợ cho các dự án xanh, tốc độ tăng trưởng đạt trên 20%/năm.
Phát triển tín dụng xanh vẫn còn nhiều thách thức
Quỳnh Trang
Theo thống kê từ NHNN, mức độ nhận thức của các ngân hàng trong việc thúc đẩy nguồn vốn tín dụng xanh đã tăng đáng kể trong 5 năm trở lại đây. Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) cho biết, đến hết tháng 6/2023, dư nợ cấp tín dụng xanh mới đạt gần 528.300 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khoảng 4,2% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Hiện tại, đã có 40 TCTD báo cáo có tài trợ cho các dự án xanh, tốc độ tăng trưởng đạt trên 20%/năm.
Việc đẩy mạnh tín dụng xanh không chỉ đem lại cơ hội cho các ngành kinh tế phát triển bền vững mà cũng tạo ra cơ hội lớn cho chính các ngân hàng. Những cơ hội sẽ mở ra với các ngân hàng khi tham gia thị trường vốn xanh được ông Nguyễn Chí Hiếu, Giám đốc Khối Tư vấn Môi trường Xã hội và Quản trị (ESG) tại KPMG Việt Nam và Campuchia chỉ ra, như: Tăng cường tính minh bạch và tính giải trình, phát triển những sản phẩm mới và dịch vụ đa dạng hơn, tăng lợi thế cạnh tranh và sự khác biệt so với các ngân hàng khác. Bên cạnh đó, công bố rõ ràng khung thông tin về tài chính còn giúp ngân hàng tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn, nhất là từ quốc tế.
Minh chứng là hàng loạt ngân hàng Việt đã thành công huy động được các khoản vay xanh từ quốc tế để đầu tư cho các dự án trong nước. Bà Tống Diệu Linh, Giám đốc Trung tâm Ngân hàng Giao dịch, Khối Thị trường Tài chính của VPBank cho biết, từ năm 2020, VPBank liên tục huy động thành công các khoản vay xanh từ các tổ chức quốc tế như IFC, DEG, DFC… Tính đến cuối năm 2023, tổng số nguồn vốn xanh ngân hàng này huy động được lên đến gần 1 tỷ USD. Nguồn vốn xanh này giúp VPBank bổ sung thanh khoản, tạo đà tăng trưởng nhanh chóng cho danh mục tín dụng xanh, đặc biệt tập trung ở nhóm khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa.
“Trong thời gian tới, VPBank sẽ tiếp tục huy động khoản vay xanh/khoản vay bền vững từ quốc tế, củng cố nền tảng vốn để hỗ trợ cho các lĩnh vực xanh và phát thải carbon thấp tại thị trường Việt Nam”, bà Linh thông tin.
Còn tại SHB, ông Đinh Ngọc Dũng, Phó Giám đốc phụ trách Khối Ngân hàng Doanh nghiệp cho biết, từ năm 2018 đến nay, dư nợ tài trợ của SHB cho các dự án xanh tăng trưởng gần 150%, cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung. Đặc biệt, SHB đã hợp tác với các đối tác quốc tế từ rất sớm như WB, IFC, ADB… Một số dự án tiểu biểu về tín dụng xanh ngân hàng này đã triển khai trong thời gian qua có thể kể đến như: Giải ngân gần 1.000 tỷ đồng trong dự án REDP do WB tài trợ thông qua các dự án năng lượng xanh; là ngân hàng phục vụ và cho vay lại Dự án “Lưới điện thông minh - Hiệu quả trong truyền tải điện” (giai đoạn 1) trị giá 65 triệu EUR; Dự án “Lưới điện hiệu quả tại các thành phố nhỏ và vừa” (giai đoạn 1 và 2) trị giá 350 triệu EUR do Chính phủ Đức tài trợ thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW). Hiện, ngân hàng đang tiếp tục tăng cường tìm kiếm nguồn vốn trung, dài hạn ưu đãi, đồng thời tư vấn về an toàn, kỹ thuật nhằm hỗ trợ cho khách hàng.
Theo ông Dũng, việc lựa chọn phát triển bền vững thông qua tín dụng xanh không những giúp ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả và bền vững hơn, mà còn giúp gia tăng thương hiệu ngân hàng đối với khách hàng, đối tác và các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là các tổ chức quốc tế để thu hút nguồn vốn trung, dài hạn với lãi suất tốt.
Cơ hội đang mở ra, nhưng thực tế vẫn có rất nhiều khó khăn cho các ngân hàng trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh. Ông Nguyễn Chí Hiếu chỉ ra khó khăn đầu tiên là chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng trong công tác thẩm định. Bên cạnh đó là quy trình nội bộ của ngân hàng khi phân loại và xây dựng khung về tín dụng xanh, tích hợp các vấn đề rủi ro của ESG vào khung rủi ro chung của ngân hàng. Ngoài ra, còn có một số thách thức như hệ thống dữ liệu về môi trường, xã hội chưa đồng nhất, nhiều dữ liệu nằm rải rác khắp nơi và không biết tập trung như nào để làm báo cáo phát triển bền vững.
Chính vì vậy, các ngân hàng cần có chính sách và chiến lược về tín dụng xanh riêng biệt; xây dựng đa dạng sản phẩm tín dụng xanh; tích hợp các rủi ro môi trường vào khung quản trị rủi ro. Cùng với đó là xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường, xã hội đồng bộ để công bố thông tin minh bạch; nâng cao năng lực cho cán bộ, nhân viên; chủ động tiếp cận các nguồn tài chính xanh…
Về phía ngân hàng cũng kiến nghị Chính phủ, các bộ, ban, ngành sớm hoàn thiện khung pháp lý, chính sách tổng thể liên quan đến triển khai tài chính bền vững nói chung và tín dụng xanh nói riêng, định hướng phát triển từng ngành hướng đến mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050. Trước mắt, cần sớm ban hành tiêu chí phân loại dự án xanh, hướng dẫn công bố thông tin tài chính khí hậu theo chuẩn quốc tế; đưa ra các quy định, hướng dẫn cụ thể, định hướng NHTM tiếp cận nguồn vốn ưu đãi cho tín dụng xanh.