Các quy định về quản trị, điều hành của TCTD, tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông, quy định giới hạn cấp tín dụng và việc luật hóa các quy định về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được xem là những nội dụng sửa đổi, bổ sung lớn tại dự án Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi).
Quy định về quản trị, điều hành của TCTD
Dự thảo Luật quy định, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các nội dung:
- Về tiêu chuẩn, điều kiện của người quản lý, điều hành (Điều 41 dự thảo Luật): Nhằm nâng cao năng lực, tiêu chuẩn, điều kiện của người quản lý, điều hành TCTD, dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung về tiêu chuẩn, điều kiện của người quản lý, điều hành như: Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên phải cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm; Thành viên độc lập của Hội đồng quản trị không đại diện sở hữu cổ phần của tổ chức tín dụng đó; không cùng người có liên quan sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 1% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng đó.
- Về các trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ (Điều 43 dự thảo Luật): Nhằm nâng cao tính minh bạch, hạn chế tình trạng thao túng trong hoạt động của TCTD, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung quy định về những trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ, trong đó bổ sung các trường hợp không được cùng đảm nhiệm chức vụ của một số chức danh tại TCTD đó, TCTD khác, doanh nghiệp khác. Dự thảo Luật cũng có quy định loại trừ để đảm bảo phù hợp với đặc thù trong một số trường hợp, như trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị của quỹ tín dụng nhân dân đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị hoặc thành viên Ban kiểm soát của ngân hàng hợp tác xã; hoặc song song với việc tăng cường tính độc lập của các thành viên Hội đồng quản trị độc lập, dự thảo Luật cho phép thành viên Hội đồng quản trị độc lập của TCTD được là người quản lý của doanh nghiệp khác nhưng không được quá 02 doanh nghiệp, qua đó có thể bổ sung nguồn nhân lực làm thành viên Hội đồng quản trị độc lập của TCTD…
- Về nhiệm vụ, quyền hạn của Ban kiểm soát (Điều 52 dự thảo Luật): Để bảo đảm việc giám sát hiệu quả hoạt động của TCTD của Ban kiểm soát, dự thảo Luật bỏ quy định về thành viên Ban kiểm soát không chuyên trách (kiêm nhiệm), đồng nghĩa với việc thành viên Ban kiểm soát phải hoạt động chuyên trách tại TCTD, đồng thời quy định tăng thẩm quyền của Ban kiểm soát nhằm mục đích tăng cường chất lượng hoạt động của Ban kiểm soát để bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cổ đông, chủ sở hữu của TCTD như: Giám sát hoạt động quản trị, điều hành tổ chức tín dụng, giám sát thực trạng tài chính; giám sát việc thông qua và thực hiện dự án đầu tư, mua, bán tài sản cố định; hợp đồng, giao dịch khác của tổ chức tín dụng thuộc thẩm quyền quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên; thành viên Ban kiểm soát có quyền yêu cầu người quản lý báo cáo, giải trình về thực trạng tài chính, kết quả kinh doanh của công ty con, kế hoạch, dự án, chương trình đầu tư phát triển và quyết định khác trong quản lý, điều hành tổ chức tín dụng…
- Về hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mại (Điều 113 dự thảo Luật): Với mục tiêu cân nhắc các vấn đề an toàn hoạt động, tập trung vào các hoạt động thuộc chức năng, nghiệp vụ của ngân hàng thương mại và loại trừ các hoạt động có tính rủi ro cao cũng như nhằm minh bạch hóa hoạt động của ngân hàng thương mại, dự thảo Luật đã điều chỉnh một số nội dung về hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mại như: ngân hàng thương mại được thực hiện các hoạt động kinh doanh khác theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước, theo quy định của pháp luật có liên quan: tư vấn về hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác quy định trong Giấy phép; Mua, bán công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương; Phát hành trái phiếu; Nghiệp vụ ngân hàng giám sát; Đại lý quản lý tài sản bảo đảm cho bên cho vay là tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc một số hoạt động kinh doanh khác.
Quy định tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông (Điều 63 dự thảo Luật)
Dự thảo Luật được điều chỉnh theo hướng giảm giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần từ 15% xuống 10% đối với cổ đông là tổ chức, từ 20% xuống 15% đối với cổ đông và người có liên quan. Việc giảm tỷ lệ sở hữu đã được cơ quan chủ trì soạn thảo đánh giá tác động để bảo đảm không không ảnh hưởng lớn đến tình hình sở hữu cổ phần của cổ đông là tổ chức, cổ đông và người có liên quan tại các TCTD.
Quy định giới hạn cấp tín dụng (Điều 135 dự thảo Luật)
Việc sửa đổi quy định về giới hạn cấp tín dụng, giảm mức dư nợ cấp tín dụng tối đa đối với một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan để hạn chế rủi ro tập trung vốn tín dụng cho một khách hàng, nhóm khách hàng lớn là cần thiết. Tuy nhiên, việc quy định giảm ngay giới hạn cấp tín dụng sẽ gây tác động đột ngột đến hoạt động của các TCTD. Trên cơ sở đó, đề xuất sửa đổi tại dự thảo Luật quy định về giới hạn cấp tín dụng theo hướng giảm giới hạn cấp tín dụng cho một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan theo lộ trình để bảo đảm giảm dần giới hạn cấp tín dụng. Việc giảm giới hạn cấp tín dụng theo lộ trình sẽ tránh việc tác động đột ngột đến hoạt động của các TCTD, hạn chế tập trung tín dụng vào một nhóm khách hàng, đồng thời tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho các đối tượng khách hàng khác.
Về luật hóa các quy định về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu (Điều 193, 196 dự thảo Luật)
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Quốc hội, dự thảo Luật đã đề xuất luật hóa các quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã triển khai hiệu quả, phù hợp trên thực tiễn. Trong đó, quy định về thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu và quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán là các quy định mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc xử lý nợ xấu của các TCTD, có tác động trực tiếp đến ý thức trả nợ của khách hàng và tạo điều kiện cho các TCTD xử lý nợ xấu một cách nhanh chóng, hiệu quả.
Tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức có liên quan, dự thảo Luật đã bổ sung các nội dung tại quy định về thu giữ như quy định về nội hàm thu giữ, thông báo việc thu giữ tới bên thứ ba có liên quan, phương thức thông báo thu giữ, sử dụng dịch vụ thừa phát lại để lập vi bằng ghi nhận việc thu giữ…nhằm quy định cụ thể, chặt chẽ, công khai, minh bạch hơn về thủ tục thu giữ; điều chỉnh quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán theo hướng quy định rõ những khoản thuế, án phí liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu để bảo đảm hài hòa lợi ích của các bên có liên quan... Quy định về thu giữ tài sản bảo đảm và thứ tự ưu tiên thanh toán là các quy định rất cần thiết, tác động trực tiếp đến hiệu quả xử lý nợ xấu của các TCTD.
Ngoài ra, trong quá trình luật hóa quy định tại Nghị quyết 42/2017/QH14, dự thảo Luật không đề xuất nội dung quy định về xử lý tài sản bảo đảm là dự án bất động sản đang được dùng bảo lãnh, thế chấp để thu hồi nợ mà đề xuất quy định tại Luật Kinh doanh bất động sản. Tuy nhiên, hiện nay tại dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản không quy định nội dung này. Do đó, để bảo đảm việc xử lý tài sản bảo đảm là dự án bất động sản đang được dùng bảo lãnh, thế chấp để thu hồi nợ, đề xuất Luật hóa quy định tại Điều 10 Nghị quyết số 42/2017/QH14 về Xử lý tài sản bảo đảm là dự án bất động sản tại dự thảo Luật Các TCTD (sửa đổi).
KY