Báo cáo nhấn mạnh, sau khi giảm vào cuối tháng 6/2022, tỷ lệ vốn theo Basel III ban đầu đã tăng trở lại và vượt mức trước đại dịch, tỷ lệ thanh khoản an toàn giảm nhưng vẫn cao hơn mức trước đại dịch.
Nhằm đánh giá tác động của khung khổ Basel III đối với các ngân hàng, Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng đã theo dõi ảnh hưởng và động lực của cải cách. Để đạt mục tiêu này, khung khổ giám sát định kỳ sáu tháng một lần đã được thiết lập theo tỷ trọng vốn dựa trên rủi ro, tỷ lệ đòn bẩy, thước đo thanh khoản - dữ liệu do các cơ quan giám sát quốc gia cung cấp theo quy định tại mỗi quốc gia. Kể từ cuối năm 2017, báo cáo đã thâu tóm tác động của việc hoàn tất cải cách Basel III. Báo cáo này tóm tắt kết quả tổng thể dựa trên dữ liệu tính đến ngày 31/12/2022 do 178 ngân hàng cung cấp, bao gồm 111 ngân hàng quốc tế lớn nhất (G1- ngân hàng nhóm 1), trong đó có 29 ngân hàng chiến lược toàn cầu (G-SIBs); và 67 ngân hàng nhóm 2 (G2).
Kết quả tổng quan (tập dữ liệu chưa cân đối)
|
30/6/2022 |
31/12/2022 |
||||
|
G 1 |
G-SIBs |
G 2 |
G 1 |
G-SIBs |
G 2 |
Khung khổ Basel III ban đầu |
||||||
Tỷ trọng CET1 (%) |
12,7 |
12,6 |
16,8 |
13,1 |
13,1 |
16,8 |
Thiếu hụt vốn mục tiêu (1) |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Thiếu hụt TLAC tối thiểu 2022(2) |
35,1 |
35,1 |
|
34,4 |
34,4 |
|
Tổng tài sản kế toán (tỷ EUR) |
81.839,4 |
59.481,9 |
2.417,9 |
80.915,3 |
55.405,3 |
4.193,2 |
Tỷ trọng đòn bẩy (%) |
5,8 |
5,7 |
5,8 |
6,1 |
5,9 |
6,3 |
LCR (%) |
138,2 |
137,5 |
220,0 |
132,0 |
134,2 |
188,4 |
NSFR (%) |
123,5 |
125,2 |
132,3 |
124,4 |
126,7 |
132,2 |
Khung khổ Basel III cuối cùng đầy đủ (2028) |
||||||
Thay đổi MRC cấp 1 (2) |
2,8 |
3,2 |
-2,0 |
3,0 |
2,9 |
6,6 |
Tỷ trọng CET1 (%) |
12,5 |
12,5 |
14,3 |
12,7 |
12,8 |
14,7 |
Thiếu hụt vốn mục tiêu (tỷ EUR) |
7,8 |
7,8 |
0,0 |
3,2 |
3,2 |
1,1 |
CET1 |
3,5 |
3,5 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,1 |
Vốn cấp 1 bổ sung |
1,9 |
1,9 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,4 |
Vốn cấp 2 |
2,4 |
2,4 |
0,0 |
3,2 |
3,2 |
0,6 |
Thiếu hụt TLAC tối thiểu 2022(1) |
29,8 |
29,8 |
|
37,4 |
37,4 |
|
Tỷ lệ đòn bẩy (%) |
6,0 |
5,9 |
5,8 |
6,1 |
6,0 |
6,3 |
Nguồn: BIS tháng 9/2023
(1): Tỷ EUR, sử dụng định nghĩa năm 2017 về rủi ro tỷ lệ đòn bẩy;
(2): Tỷ EUR.
Theo khung khổ Basl III ban đầu, tỷ trọng vốn cổ phần cấp 1 (CET1) tại các ngân hàng nhóm 1 ghi nhận mức tăng trung bình từ 12,7% từ cuối tháng 6/2022 lên 13,1% vào cuối tháng 12/2022. Tác động của khung khổ Basel III đối với vốn cấp 1 tối thiểu theo yêu cầu (MRC) tại các ngân hàng nhóm 1 tăng 3,0%, cao hơn kết quả tăng 2,8% trong 6 tháng đầu năm 2022. Trong đó, nhóm G-SIBs ghi nhận mức tăng trung bình 2,9%.
Sau khi tăng vào tháng 6/2022, thiếu hụt nguồn vốn theo khung khổ Basel III cuối cùng đã giảm trở lại trong sáu tháng cuối năm 2022, nhưng vẫn cao hơn so với cuối năm 2021 (tại các ngân hàng nhóm 1 và G-SIBs). Đối chiếu với yêu cầu tối thiểu về năng lực hấp thụ lỗ tổng thể (TLAC) và khung khổ Basel III ban đầu, bốn ngân hàng trong số 24 G-SIBs báo cáo mức thiếu hụt tổng thể gia tăng 37,4 tỷ EUR.
Tại các ngân hàng nhóm 1, tỷ lệ thanh khoản an toàn (LCR) giảm từ 138,2% xuống 132,0%, tỷ lệ quỹ bình ổn ròng (NSFR) tăng từ 123,5% lên 124,4%. Trái lại, không thể tiến hành so sánh tại các ngân hàng nhóm 2, nguyên nhân là do những thay đổi đáng kể trong mẫu điều tra.
Sau khi giảm vào cuối tháng 6/2022, tỷ lệ vốn theo Basel III ban đầu tăng trở lại và vượt mức vốn trước đại dịch
Tập dữ liệu cân bằng tại các ngân hàng nhóm 1 cho thấy, tỷ trọng vốn theo Basel III ban đầu đã tăng trở lại trong sáu tháng cuối năm 2022, nhờ vốn cấp 1 tăng mạnh và RWA tăng. Đối với các ngân hàng nhóm 1, tỷ trọng vốn CET1 tổng thể trong tập dữ liệu cân bằng đạt 13,1% vào tháng 12/2022. Hiện tại, tỷ lệ vốn cấp 1 tại châu Âu cao hơn tại Mỹ và những nước khác. Tuy nhiên, khi so sánh với dữ liệu bắt đầu từ năm 2011, mối quan hệ này đã đảo chiều trước năm 2014.
Đối với G1, tác động của Basel III cuối cùng tăng nhẹ so với báo cáo trước đó
Đối với các ngân hàng nhóm 1, tỷ trọng vốn cổ phần cấp 1 tối thiểu theo yêu cầu (MRC) tăng 3,0% khi đối chiếu với tiêu chuẩn Basel III cuối cùng đầy đủ. Trong tháng 12/2022, tỷ lệ đòn bẩy theo yêu cầu gia tăng 0,2%, kết quả tăng MRC chủ yếu là nhờ các cấu thành rủi ro, dẫn dắt bởi CVA (+0,5%), rủi ro thị trường (+0,9%), rủi ro hoạt động (-0,2%) và sàn thu nhập (+2,7%). Trong khi đó, tác động tiêu cực lên tổng mức tăng MCR bao gồm rủi ro tín dụng (-1,0%) và những yêu cầu khác về trụ cột 1. Tác động đối với MRC tại các ngân hàng nhóm 1 có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực, tăng rất cao tại châu Âu, tăng nhẹ tại Mỹ và giảm nhẹ tại phần còn lại trên thế giới. Đối với các ngân hàng nhóm 2, tổng mức tăng 6,6% MRC cấp 1 được dẫn dắt bởi thước đo dựa trên rủi ro (12,3%), chủ yếu bắt nguồn từ rủi ro tín dụng (+6,8%) và sàn thu nhập (+4,1%), trong khi tỷ lệ đòn bẩy giảm (-5,7%). So với giữa năm 2022, tác động trung bình của khung khổ Basel III cuối cùng đến các ngân hàng nhóm 1 tăng 20 điểm cơ bản từ 2,8% lên 3,0%.
Tỷ trọng đòn bẩy theo Basel III đầy đủ tại G1 trong sáu tháng cuối năm 2022
Theo bộ dữ liệu chưa cân đối tính đến cuối năm 2022, tỷ lệ đòn bẩy cấp 1 đầy đủ theo Basel III cuối cùng đạt mức trung bình 6,1% tại các ngân hàng nhóm 1; 6,0% tại G-SIBs; và 6,3% tại các ngân hàng nhóm 2. Theo bộ dữ liệu cân bằng của các ngân hàng nhóm 1, tỷ lệ đòn bẩy tăng từ giai đoạn báo cáo trước đó, chủ yếu là tại Mỹ và châu Âu. Tỷ lệ đòn bẩy tại châu Âu (5,1%) vẫn thấp hơn tại Mỹ (6,1%) và phần còn lại trên thế giới (6,9%).
Đối chiếu với tiêu chuẩn Basel III cuối cùng, mức thiếu hụt vốn kết hợp theo mục tiêu tại các ngân hàng nhóm 1 ghi nhận xu hướng giảm
Các ngân hàng nhóm 1 đăng ký tổng mức thiếu hụt vốn điều lệ tới 3,2 tỷ EUR, giảm khá sâu so với mức thiếu hụt 7,8 tỷ EUR vào cuối tháng 6/2022. Đối với các ngân hàng nhóm 2, tổng mức thiếu hụt vốn điều lệ là 1,1 tỷ EUR, tăng từ tỷ lệ 0% vào cuối tháng 6/2022 do mẫu điều tra quá nhỏ.
Đối với G1, vốn điều lệ CET1 đầy đủ tăng trong sáu tháng cuối năm 2022, lợi nhuận và tỷ lệ thanh toán tiền lãi cổ phần vẫn cao hơn trước đại dịch
Từ cuối năm 2011 đến cuối năm 2022, vốn CET1 tại các ngân hàng nhóm 1 tăng 10% từ 1.717 tỷ EUR lên 3.943 tỷ EUR. Riêng trong sáu tháng cuối năm 2022, vốn CET1 tăng 100 tỷ EUR (2,6%). Trong sáu tháng cuối năm 2022, vốn CET1 tại châu Âu không thay đổi, tăng nhẹ tại Mỹ và phần còn lại trên thế giới. Trong khi vốn CET1 tại phần còn lại trên thế giới tăng trên ba lần so với năm 2011, Mỹ và châu Âu ghi nhận mức tăng không đáng kể, lần lượt là 89% và 72%. Về tổng thể, lợi nhuận sau thuế tại các ngân hàng nhóm 1 trong mẫu điều tra ghi nhận xu hướng tăng và đạt 248,4 tỷ EUR trong sáu tháng cuối năm 2022, cao hơn mức trước đại dịch. Tỷ lệ thanh toán lãi cổ phần là 34,9%, cao nhất kể từ cuối năm 2018.
Lợi nhuận khác nhau giữa các khu vực
Tại các ngân hàng nhóm 1 trong mẫu điều tra, lợi nhuận sau thuế hàng năm giảm đáng kể tại châu Âu (-19,8%) và Mỹ (-20,3%), trong khi tăng mạnh tại phần còn lại trên thế giới (+14,7%) so với cùng kỳ năm trước. Kể từ sáu tháng trước, tỷ lệ thanh toán tiền lãi cổ phần tăng tại Mỹ và châu Âu, nhưng tại Mỹ vẫn giảm đáng kể so với năm 2019 và năm 2020, đứng ở mức trước đại dịch tại châu Âu và phần còn lại trên thế giới.
Đối chiếu với các quy định hiện hành, kết quả phân tích tỷ trọng MRC theo tài sản loại 1 cho thấy, rủi ro tín dụng MRC tăng đối với các doanh nghiệp và giảm đối với chứng khoán
Đến tháng 12/2022 và đối với tập dữ liệu của ngân hàng nhóm 1, rủi ro tín dụng tiếp tục chiếm tỷ trọng áp đảo trong MRC tổng thể, trung bình chiếm 65,9% MRC. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng giảm sâu từ tỷ trọng 75,6% vào cuối năm 2011. Tỷ trọng rủi ro hoạt động MRC tăng nhanh từ 6,7% vào cuối tháng 6/2011 lên 14,9% vào cuối năm 2018, sau đó giảm nhẹ xuống 13,9% vào cuối năm 2022. Đà tăng từ đầu những năm 2010 được đóng góp chủ yếu bởi số lượng và mức độ trầm trọng của các sự cố rủi ro hoạt động xảy ra trong và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, được cân nhắc khi tính toán rủi ro hoạt động đối với MRC theo cách tiếp cận mới. Trong số rủi ro tín dụng của tài sản các loại, tỷ trọng MRC đối với rủi ro của doanh nghiệp tăng trong giai đoạn báo cáo từ 32,5% vào cuối tháng 6/2011 lên 38,0% vào cuối tháng 12/2022. Từ tháng 6/2011 đến cuối năm 2022, tỷ trọng MRC đối với rủi ro chứng khoán giảm từ 5,8% xuống 1,3%.
Tỷ lệ thanh khoản an toàn trung bình giảm, trong khi NSFR trung bình tăng; tất cả các ngân hàng vượt ngưỡng 100% về NSFR
Đến cuối năm 2022, LCR trung bình gia quyền đạt 132,0% đối với các ngân hàng nhóm 1 và 188,4% đối với các ngân hàng nhóm 2. Trong giai đoạn báo cáo hiện hành, có 3 ngân hàng nhóm 1 ghi nhận LCR dưới 100% và vì thế thiếu hụt (có nghĩa là sự khác biệt giữa các tài sản thanh khoản cao với dòng vốn ra ròng) tới 15,1 tỷ EUR. Cuối tháng 12/2022, NSFR trung bình gia quyền tại các ngân hàng nhóm 1 là 124,4% và đối với các ngân hàng nhóm 2 là 132,2%. Tất cả các ngân hàng báo cáo vượt 100%.
Đối với các ngân hàng nhóm 1, LCRs giảm nhưng vẫn sát mức trước đại dịch; NSFRs tăng và vẫn vượt mức trước đại dịch
Đối với tập dữ liệu cân bằng của các ngân hàng nhóm 1, tất cả nhưng ba ngân hàng đáp ứng 100% LCR vào cuối năm 2022, kết quả là thiếu hụt tổng thể 11,3 tỷ EUR. Riêng trong sáu tháng cuối năm 2022, mức thiếu hụt tăng 4,8 tỷ EUR. Trong mẫu điều tra, LCR trung bình giảm từ 138,4% vào cuối tháng 6/2021 xuống 135,3%. Đối với tập dữ liệu cân bằng của các ngân hàng nhóm 1, tiếp tục không thiếu hụt NSFR tổng thể. Đối với mẫu ngân hàng tương tự, NSFR trung bình tăng từ 123,2% lên 125,1% vào tháng 12/2022. Trong khi tỷ trọng NSFR vẫn vượt mức trước đại dịch, LCR vẫn thấp hơn mức trước đại dịch.
Các ngân hàng nhóm 2 ghi nhận LCR giảm và NSFR tăng và không thiếu hụt; cả hai tỷ lệ thanh khoản tăng đáng kể so với trước đại dịch
Đối với tập dữ liệu cân bằng của các ngân hàng nhóm 2, thiếu hụt LCR vẫn ở mức 0% kể từ tháng 6/2017. Đối với mẫu ngân hàng tương tự, LCR trung bình giảm 30,7% xuống 180,4% vào tháng 12/2022. Đối với tập dữ liệu cân bằng của các ngân hàng nhóm 2, thiếu hụt NSFR tổng thể vẫn ở mức 0%. Đối với mẫu ngân hàng tương tự, NSFR trung bình tăng 2,0% lên 129,7% vào tháng 12/2022. LCR vẫn cao hơn mức trước đại dịch, trong khi NSFR tiếp tục tăng cao hơn mức trước đại dịch. Vào cuối năm 2019, LCR tại mẫu ngân hàng nhóm 2 đứng ở mức 163,3% và NSFR ở 117,1%.
Trong sáu tháng cuối năm 2022, LCRs của G1 giảm tại châu Âu và Mỹ, trong khi NSFRs có xu hướng tăng tại Mỹ và phần còn lại trên thế giới
Kể từ năm 2019, LCR trung bình gia quyền tại châu Âu và phần còn lại trên thế giới cao hơn 140%, tại Mỹ dao động quanh tỷ lệ 121%. Đến cuối tháng 6/2021, NSFR trung bình gia quyền tại các ngân hàng nhóm 1 đều vượt tỷ lệ 100%. NSFR tại châu Âu và Mỹ lần lượt tăng từ 111,4% và 114,2% vào cuối tháng 12/2019 lên 119,8% và 131,7% vào cuối tháng 12/2022. Sau khi giảm sâu trong báo cáo trước đó, NSFR của các ngân hàng tại Mỹ tiếp tục đạt mức tăng kỷ lục trong mọi thời đại (134,9%) vào cuối năm 2021.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: BIS tháng 9/2023