Diễn biến kinh tế khu vực
Cầu nội địa tại khu vực ASEAN+3 vẫn ổn định trong quý đầu tiên của năm 2023. Tiêu dùng tư nhân tăng trưởng đều đặn ở hầu hết các nền kinh tế, được duy trì nhờ lạm phát giảm cùng sự phục hồi chắc chắn của thị trường lao động. Tại Trung Quốc, các hoạt động kinh tế đã phục hồi mạnh mẽ trong ba tháng đầu năm 2023 sau khi mở cửa trở lại sau đại dịch vào cuối năm ngoái. Các hoạt động đầu tư, trước đây bị gián đoạn do hạn chế đại dịch, cũng tăng tốc trở lại.
Lạm phát toàn phần ở hầu hết các quốc gia trong khu vực ở mức vừa phải nhờ giá hàng hóa toàn cầu giảm và việc bình thường hóa chuỗi cung ứng. Lạm phát toàn phần vẫn tương đối cao ở Philippines và Singapore chủ yếu do nguồn cung hạn chế trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Lạm phát cơ bản (không bao gồm giá lương thực và năng lượng) tương đối khó giải quyết, đặc biệt là ở những nền kinh tế có sức cầu mạnh.
Nhu cầu toàn cầu yếu đã làm giảm xuất khẩu hàng hóa của ASEAN+3 trong nửa đầu năm 2023, nhưng các dấu hiệu đảo chiều đang xuất hiện. Lực cản đối với xuất khẩu đặc biệt sâu sắc đối với các nền kinh tế ASEAN+3 có độ mở cao. Mặc dù tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa vẫn ở mức âm (-1,6%) (so với cùng kỳ năm trước, trung bình động 3 tháng) vào tháng 4/2023, nhưng đã có sự cải thiện so với mức (-10%) vào tháng 1/2023 trong bối cảnh hoạt động kinh tế toàn cầu tiếp tục suy yếu và sự suy thoái theo chu kỳ của ngành bán dẫn.
Về khối lượng, xuất khẩu hàng hóa tăng trưởng tích cực trong tháng 4/2023 sau 6 tháng sụt giảm liên tiếp, một phần do nhu cầu tại Hoa Kỳ và Trung Quốc được cải thiện. Các Chỉ số Nhà quản trị Mua hàng (PMI) đối với các đơn đặt hàng mới các sản phẩm xuất khẩu chính của khu vực bao gồm máy móc và ô tô, cho thấy sự cải thiện dần dần trong vài quý tới. Ngoài ra, nhu cầu toàn cầu về chất bán dẫn được dự báo sẽ tăng trở lại vào năm 2024, điều này sẽ tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu của khu vực.
Trong khi đó, xuất khẩu dịch vụ - đặc biệt là du lịch - đang phục hồi nhanh chóng. Lượng khách du lịch đến các nền kinh tế Plus-3 và CMV đã vượt trên 50% so với mức trước đại dịch trong quý đầu tiên của năm 2023 và sự quay trở lại ổn định của du khách Trung Quốc sẵn sàng thúc đẩy ngành này phát triển hơn nữa. Du lịch nội địa của khu vực đặc biệt phát triển mạnh mẽ, bù đắp cho sự quay trở lại chậm của khách du lịch từ Trung Quốc cho đến nay do việc mở cửa lại biên giới muộn.
Thị trường tài chính trong khu vực vẫn còn nhiều biến động. Tâm lý e ngại rủi ro của thị trường gia tăng kể từ tháng 3 - sau tình trạng khó khăn của ngành ngân hàng tại Hoa Kỳ và Châu Âu. Cùng với những dấu hiệu phục hồi yếu kém của Trung Quốc và nguy cơ vỡ nợ của Hoa Kỳ - đã gây áp lực giảm giá lên nhiều đồng tiền và thị trường chứng khoán trong khu vực. Mặt khác, lợi suất trái phiếu đã giảm trên toàn khu vực - chủ yếu phản ánh áp lực lạm phát giảm và tốc độ thắt chặt tiền tệ của các ngân hàng trung ương ASEAN+3 và Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) chậm lại. Tuy nhiên, sự không chắc chắn kéo dài về tốc độ và kết thúc chu kỳ thắt chặt của FED có thể tiếp tục làm giảm nhu cầu đối với các tài sản của thị trường mới nổi.
Triển vọng kinh tế khu vực
Dự báo của AMRO đối với tăng trưởng 2023 – 2024 của các nền kinh tế ASEAN+3 phần lớn không thay đổi so với các dự báo trong AREO hồi tháng 4/2023. Khu vực ASEAN+3 vẫn được dự đoán sẽ tăng trưởng 4,6% vào năm 2023. Tăng trưởng cho các nền kinh tế Plus-3 được dự báo tăng nhẹ lên 4,6% từ 4,5% trong AREO 2023, phản ánh nhu cầu nội địa và du lịch nội địa mạnh mẽ hơn ở Hồng Kông (Trung Quốc) và Nhật Bản. Đồng thời, dự báo tăng trưởng của ASEAN đã được điều chỉnh giảm xuống 4,5% từ mức 4,9% trong dự báo trước đó, phản ánh tác động của nhu cầu bên ngoài yếu hơn đối với Singapore và Việt Nam.
Năm 2024, ASEAN+3 dự kiến sẽ tăng trưởng 4,5%. Dự báo lạm phát cơ bản của 12 nền kinh tế ASEAN+3 trong năm 2023 – 2024 (không bao gồm CHDCND Lào và Myanmar) được điều chỉnh giảm so với đánh giá tại AREO tháng 4/2023.
Lạm phát toàn phần của 12 nền kinh tế ASEAN+3 hiện được dự đoán sẽ giảm từ mức 4,1% năm 2022 xuống còn 3,0% vào năm 2023. Tuy nhiên, một số nền kinh tế như Philippines và Singapore, sẽ tiếp tục chứng kiến lạm phát toàn phần trên 5% trong năm nay chủ yếu do áp lực chi phí trong nước cao hơn.
Lạm phát chung năm 2024 của 12 nền kinh tế ASEAN+3 dự kiến sẽ giảm xuống còn 2,4%. Ngược lại, lạm phát cơ bản ở Lào và Myanmar đã được điều chỉnh tăng lên khoảng 25% - phản ánh tác động kéo dài của việc đồng tiền mất giá mạnh ở cả hai nền kinh tế này.
Nhìn chung, những rủi ro tiêu cực đối với triển vọng tăng trưởng của khu vực đã giảm bớt kể từ bản báo cáo AREO 4/2023. Điều này chủ yếu là do các yếu tố gồm: hoạt động kinh tế ở các nền kinh tế tiên tiến khả quan hơn, căng thẳng trong hệ thống ngân hàng toàn cầu đã giảm bớt kể từ tháng 3/2023 và giá hàng hóa thấp hơn dự kiến.
Những rủi ro chính đối với triển vọng
Suy thoái ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Lạm phát cao liên tục ở Hoa Kỳ và Châu Âu sẽ buộc FED và Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) phải giữ chi phí đi vay ở mức cao (hơn) trong một thời gian dài. Việc khôi phục sự ổn định giá cả có thể phải đánh đổi bằng việc gây ra suy thoái kinh tế, điều đó có nghĩa là nhu cầu bên ngoài yếu hơn đối với các lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu của khu vực.
Tăng trưởng kinh tế chững lại ở Trung Quốc. Bất chấp sự bùng nổ ban đầu của hoạt động kinh tế sau khi mở cửa trở lại, kỳ vọng về sự phục hồi mạnh mẽ có thể không thành hiện thực nếu các hộ gia đình trở nên thận trọng hơn trong chi tiêu, bất động sản tiếp tục suy yếu hơn nữa và nhu cầu với hàng hóa xuất khẩu vẫn chậm chạp. Nếu tăng trưởng của Trung Quốc không đạt được kỳ vọng, nền kinh tế khu vực sẽ phải chịu tác động lan tỏa tiêu cực thông qua thương mại, đầu tư và du lịch.
Hiệu ứng lan tỏa tài chính từ chính sách tiền tệ thắt chặt hơn của Hoa Kỳ. Chi phí đi vay cao hơn kéo dài ở Hoa Kỳ có thể kéo theo một giai đoạn căng thẳng tài chính khác, thể hiện qua sự sụp đổ của ngân hàng Silicon Valley Bank và Signature Bank. Chính sách tiền tệ thắt chặt hơn của FED có thể gây áp lực lên bất động sản thương mại và các lĩnh vực có đòn bẩy cao khác, sau đó có thể đe dọa sự ổn định tài chính thông qua tính liên kết của hệ thống tài chính. Một đợt căng thẳng tài chính khác ở Hoa Kỳ có thể làm tăng tâm lý e ngại rủi ro toàn cầu, với tác động lan tỏa tiêu cực đến ASEAN+3 dưới dạng phí bảo hiểm rủi ro và chi phí tái cấp vốn cao hơn, cùng với việc dòng vốn chảy ra ngoài - đặc biệt là ở các nền kinh tế có tỷ lệ đầu tư danh mục đầu tư nước ngoài cao.
Tăng giá hàng hóa toàn cầu. Những diễn biến địa chính trị đang diễn ra sẽ tiếp tục thúc đẩy biến động nguồn cung, mặc dù giá hàng hóa toàn cầu giảm kể từ năm ngoái. Giá năng lượng và lương thực thế giới có thể tăng trở lại khi cuộc khủng hoảng Ukraine tiếp tục diễn ra với khả năng leo thang nguy hiểm. Chuỗi cung ứng nông nghiệp có thể bị gián đoạn do hiện tượng thời tiết El Nino xuất hiện trong năm nay, dẫn đến các đợt nắng nóng và hạn hán, đồng thời đe dọa nguồn cung lương thực trong khu vực.
Căng thẳng kinh tế Hoa Kỳ và Trung Quốc. Cuộc chiến công nghệ cao hiện nay giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể leo thang và biến thành sự phân chia thế giới thành hai khối kinh tế triệt để hơn, dẫn đến cắt đứt các mối liên kết thương mại và đầu tư hiện có trong khu vực, điều này sẽ có ảnh hưởng khốc liệt đối với triển vọng tăng trưởng cho khu vực ASEAN+3.
ASEAN+3 cũng tiếp tục đối mặt với các rủi ro lâu năm chồng chéo lên nhau đối với ổn định tài chính vĩ mô. Đáng chú ý, các hiện tượng thời tiết cực đoan phát sinh từ biến đổi khí hậu, cùng với các nỗ lực chính sách toàn cầu nhằm giảm thiểu nhanh chóng lượng khí thải nhà kính sẽ đặt ra rủi ro ngắn hạn và dài hạn cho nhiều nền kinh tế trong khu vực. Những rủi ro này có thể gây thiệt hại lớn cho sức khỏe tài khóa và ổn định hệ thống tài chính. Trong khi rủi ro ngắn hạn từ COVID-19 đã giảm bớt, các chuyên gia y tế cảnh báo về khả năng xuất hiện các bệnh truyền nhiễm mới trên toàn cầu. Một kịch bản như vậy có thể gây thêm những vết sẹo kinh tế trên toàn khu vực ASEAN+3.
MN (nguồn: Amro)