SVB và Credit Suisse lẽ ra đã không bị đổ vỡ nhờ những cải cách tài chính
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, nhiều biện pháp cải cách đã được đưa ra nhằm ngăn chặn những rủi ro tương tự có thể xảy ra. Theo nhà kinh tế học Mark Carney - người sau này trở thành Thống đốc Ngân hàng trung ương Anh (BoE) và Chủ tịch Ủy ban Ổn định Tài chính (FSB) thì "trong thập kỷ qua, các cuộc cải cách tài chính của G20 đã khắc phục những sai lầm gây ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu" (2008 – 2009).
Những cải cách tài chính của nhóm các nền kinh tế lớn G20 sau năm 2000 được thiết lập dựa trên triết lý của các quy định hiện đại. Trong đó, ý tưởng là tất cả các rủi ro quan trọng cần phải được xác định và đánh giá, để được sử dụng bởi các ngân hàng và cơ quan tài chính nhằm xác định mức độ rủi ro thích hợp. Từ đó, các ngân hàng và cơ quan quản lý sẽ dễ dàng điều chỉnh rủi ro. Nếu cần tăng trưởng nhiều hơn, các cơ quan điều hành có thể giảm yêu cầu về vốn, như đã thực hiện vào tháng 3/2020, hoặc yêu cầu thêm vốn nếu rủi ro quá cao, như lẽ ra chúng ta nên làm trước năm 2008. Rủi ro đóng một vai trò quan trọng trong đó vì lượng vốn là yếu tố trực tiếp đối với sự rủi ro của một ngân hàng (theo Perotti 2023, Dewatripont và cộng sự, 2023).
Trường hợp của Credit Suisse và SVB đã đặt ra những thách thức đối với các triết lý hiện đại về quy định quản lý tài chính tại nhiều nền kinh tế. Mặc dù có nhiều yếu tố tác động đã được nghiên cứu, nhưng đáng chú ý trong đó là bộ ba bất khả thi của chính sách tài chính - tiền tệ, gồm: (1) Nền kinh tế phải tăng trưởng, hoặc ít nhất phải tránh suy thoái, (2) Lạm phát cần sát với mục tiêu (2%), và (3) Ổn định tài chính phải cao.
Các quy định về tài chính – cả ở phạm vi vi mô, bao gồm Basel III, và ở phạm vi an toàn vĩ mô – đều đóng vai trò then chốt trong việc đạt được các mục tiêu trên. Tuy nhiên, vấn đề là chúng không thể đạt được một cách đồng thời. Vì vậy, các nhà chức trách cần chọn mục tiêu mà họ ưu tiên hơn, do đó, bộ ba mục tiêu này là bất khả thi.
Sự xung đột giữa các mục tiêu này dường như không quá rõ ràng trong khoảng một thập kỷ sau cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008 khi chúng đều khá đồng bộ trong giai đoạn này. Chính sách tài chính, tiền tệ đã hỗ trợ tăng trưởng thông qua nới lỏng định lượng và lãi suất thấp, lạm phát ở gần mức mục tiêu và ổn định tài chính ở mức cao. Tuy nhiên, thực tế đó chỉ là một ảo tưởng.
Chính sách tiền tệ nới lỏng, được thiết kế để giúp nền kinh tế tăng trưởng, đã khiến hệ thống tài chính phụ thuộc vào lãi suất thấp. Việc các ngân hàng thích ứng hoạt động của họ với môi trường lãi suất thấp không được xem là một vấn đề bởi họ sẽ chỉ gặp khó khăn nếu lãi suất tăng lên. Do đó, điều kiện cần thiết để chính sách tiền tệ vẫn phù hợp đó là lạm phát sẽ không bao giờ tăng. Đây chính là sự đặt cược vào lạm phát thấp và lãi suất thấp kéo dài mãi mãi.
Chính sách tiền tệ nới lỏng càng lâu thì rủi ro hệ thống càng tăng, cùng với sự phụ thuộc ngày càng tăng vào việc tạo ra tiền và lãi suất thấp. Mặc dù không thực sự bị che giấu nhưng khu vực tư nhân khó phát hiện ra những vấn đề này do thiếu các thông tin chi tiết trong các báo cáo kế toán được công bố, ngược lại cơ quan quản lý có đủ tất cả các dữ liệu và có thể nhận diện được vấn đề.
Hậu quả cuối cùng của chính sách tiền tệ nới lỏng là làm suy yếu mục tiêu ổn định tài chính. Điều đó có vẻ không phải là một vấn đề vì tất cả những gì các cơ quan quản lý phải làm là kiểm soát rủi ro bằng cách tăng vốn. Nhưng vấn đề là tăng vốn khi nền kinh tế đang hoạt động kém, hay rơi vào suy thoái thì mục tiêu ổn định tài chính cao sẽ mâu thuẫn với mục tiêu đầu tiên là tăng trưởng kinh tế.
Triết lý hiện đại về các quy định tài chính đặt các cơ quan quản lý vào một tình thế bất khả thi mà không có lựa chọn tốt.
Nếu muốn nền kinh tế tăng trưởng để đạt được mục tiêu đầu tiên, chúng ta phải bỏ qua hai mục tiêu còn lại là kiểm soát lạm phát và ổn định tài chính. Đầu tiên, thông qua việc giữ chi phí huy động vốn thấp, hạn chế tăng lãi suất và thúc đẩy lạm phát; thứ hai, bằng cách duy trì chi phí cho vay ở mức hợp lý và dễ tiếp cận, có nghĩa là nguồn vốn phải thấp và đòn bẩy tài chính cao, từ đó thúc đẩy rủi ro hệ thống.
Trong cuộc chiến chống lạm phát, nền kinh tế cuối cùng có thể rơi vào suy thoái bởi chi phí cho vay tốn kém và sự ổn định tài chính giảm xuống do vị thế vốn của các ngân hàng bị xói mòn, ảnh hưởng đến tăng trưởng và thậm chí gây ra suy thoái.
Hỗ trợ ổn định tài chính bằng cách tăng mức vốn, khiến việc cho vay trở nên quá đắt đỏ, tăng trưởng bị hạn chế và nền kinh tế bị đẩy vào suy thoái. Hỗ trợ ổn định tài chính bằng cách tăng mức vốn, khiến cho việc cho vay trở nên quá đắt đỏ, tăng trưởng bị hạn chế và nền kinh tế bị đẩy vào suy thoái.
Tất cả những điều này đều có thể thấy trước và có thể tránh được, đặc biệt là khi các quy định về nhà ở và chính sách tiền tệ trong cùng một thể chế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác của hai lĩnh vực chính sách này, giúp các kiến trúc sư của chính sách tài chính xác định những điểm yếu trong khuôn khổ chính sách.
Mặc dù có nhiều lý do tại sao các nhà điều hành bỏ qua khả năng ba mục tiêu chính sách có thể mâu thuẫn với nhau, nhưng yếu tố chính trị chắc chắn đóng một vai trò quan trọng trong đó, thì sự thất bại của triết lý hiện đại về các quy định đối với lĩnh vực tài chính là một nguyên nhân chính.
Hai vấn đề chính các cơ quan quản lý phải đối mặt.
Thứ nhất, hệ thống tài chính trên thực tế vô cùng phức tạp và ngay cả khi các cơ quan quản lý thành công trong việc xác định các rủi ro và những lĩnh vực xuất hiện rủi ro thì vẫn có vô số rủi ro nảy sinh ở những nơi khác. Không có cách nào để xác định và quản lý tất cả các rủi ro đó một cách hiệu quả. Bởi nếu làm như vậy sẽ khiến các quy định tài chính trở nên nặng nề đến mức các ngân hàng sẽ không còn hoạt động như các tổ chức trung gian giữa người gửi tiền tiết kiệm và nhà đầu tư.
Vấn đề thứ hai là, rủi ro tài chính nói chung không thể được đo lường một cách chính xác. Đã từng có các ý tưởng đề xuất về một công cụ đo lường cho phép đánh giá chính xác những rủi ro. Nhưng điều này là bất khả thi bởi hầu hết rủi ro tài chính không thể đo lường trực tiếp. Chúng ta chỉ có thể phỏng đoán các rủi ro tài chính dựa trên tác động mà nó để lại trên toàn cầu, chẳng hạn như những biến động về giá cả. Để chuyển những biến động đó thành rủi ro, chúng ta cần đến một mô hình để đánh giá. Tuy nhiên, vô số mô hình có thể được sử dụng, nên sẽ có vô số thước đo tương ứng đối với cùng một rủi ro.
Hai vấn đề trên nói lên rằng triết lý hiện đại về các quy định tài chính sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 có thể đã không còn phù hợp. Triết lý này dựa trên quan điểm rằng các cơ quan quản lý và các ngân hàng duy trì sự phản hồi tốt giữa việc xác định và đo lường rủi ro đối với mức độ rủi ro được thực hiện. Các điều kiện cần thiết để tồn tại vòng phản hồi hiệu quả này là hệ thống tài chính không quá phức tạp để các cơ quan quản lý có thể xác định rủi ro ở bất cứ đâu nó có thể xảy ra và đo lường chính xác mức độ rủi ro. Nhưng, trong trường hợp của Credit Suisse và SVB, cả hai điều kiện trên rõ ràng đều không được đáp ứng. Đó là lý do tại sao các chính sách quản lý tài chính sau năm 2008 bị coi là một thất bại.
Các giải pháp được đề xuất.
Một lựa chọn rõ ràng và khả dĩ nhất đơn giản là tăng cường các khung pháp lý hiện hành, thắt chặt các quy định và tăng vốn các ngân hàng. Mặc dù biện pháp này có thể giúp giảm bớt tình trạng căng thẳng của thị trường ngay lập tức, nhưng nó cũng sẽ khiến hoạt động trung gian tài chính trở nên đắt đỏ hơn, từ đó làm giảm cho vay đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng, và thậm chí có thể dẫn đến suy thoái. Vì vậy nó tốt nhất chỉ nên là một giải pháp rất ngắn hạn bởi về lâu dài nó sẽ làm tăng rủi ro hệ thống.
Chúng ta cũng có thể để lĩnh vực tài chính cho thị trường điều tiết và đối xử với các ngân hàng như bất kỳ doanh nghiệp nào khác trong nền kinh tế. Tuy nhiên, điều này sẽ không khả thi dưới góc độ chính trị bởi nếu một cuộc khủng hoảng tiếp theo xảy ra, các chính phủ sẽ chịu áp lực phải hành động đến mức buộc phải can thiệp, như đã từng được chứng minh nhiều lần trong lịch sử. Do đó, tốt hơn hết là các cơ quan quản lý cần chuẩn bị cho những tình huống có thể xảy ra, điều đó cũng có nghĩa là chúng ta không thể phó mặc các ngân hàng cho thị trường quyết định.
Một biện pháp khác đó là thay đổi khung pháp lý, có thể yêu cầu các ngân hàng phải đảm bảo tỷ lệ dự trữ 100% cho tiền gửi không kỳ hạn và tài sản có kỳ hạn tương ứng với tài sản nợ. Mặc dù điều đó sẽ ngăn chặn các kịch bản đổ vỡ tương tự Credit Suisee và SVB, nhưng nó cũng sẽ khiến hoạt động của trung gian tài chính trở nên rất tốn kém và do đó có khả năng suy thoái cao.
Giải pháp công nghệ cũng có thể được tính tới dựa trên sự ra đời của tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC), được tạo ra một cách tham vọng hơn nhiều so với những gì chúng hiện đang hình thành. Tất cả chúng ta đều có thể nắm giữ các token tiền pháp định do ngân hàng trung ương phát hành. Điều đó sẽ đảm bảo tính thanh khoản một cách hoàn hảo, với việc các ngân hàng trung ương đóng vai trò giống như các công ty công nghệ giám sát hệ thống tài chính phi tập trung – được biết đến với tên gọi là Web5 và DeFi. Đây có thể là một giải pháp tốt, nhưng nó rất tham vọng và sẽ mất nhiều thập kỷ để thực hiện, và một vấn đề chính chưa được giải quyết là chúng ta không muốn ngân hàng trung ương tham gia vào các quyết định cho vay.
Hai lựa chọn thay thế khác được đề xuất. Đầu tiên là thay vì tiếp cận vấn đề của các quy định tài chính từ góc độ bộ đệm rủi ro, chúng ta có thể tiếp cận từ khả năng hấp thụ các cú sốc. Khi những cú sốc xảy ra, chúng nên được hấp thụ như thế nào là tốt nhất? Các quy định hiện nay dường như khiến các ngân hàng hoạt động như những bộ khuếch đại sốc vì họ sẽ cộng hưởng các kỳ vọng thông qua các kỹ thuật đo lường rủi ro được tiêu chuẩn hóa và hành động thông qua các bộ đệm bắt buộc. Trên thực tế, điều này có nghĩa là khi các cú sốc xảy ra, các định chế trong hệ thống sẽ phản ứng theo cùng một cách, tất cả sẽ cùng mua hoặc bán đồng thời - đây là cơ chế cơ bản đằng sau sự khuếch đại cú sốc.
Giải pháp là làm cho các định chế trong hệ thống tài chính trở nên đa dạng và phong phú hơn. Khi một cú sốc xảy ra các tổ chức sẽ có những hành động khác nhau, một số ngân hàng sẽ mua vào tài sản, trong khi những ngân hàng khác bán ra, từ đó không tạo thành sự cộng hưởng làm trầm trọng thêm các cú sốc. Điều này có thể đạt được thông qua điều chỉnh các quy định. Thay vì nhấn mạnh vào các rủi ro và chú trọng bộ đệm dự phòng, chúng ta hãy khuyến khích các mô hình kinh doanh khác nhau. Các cơ quan quản lý vi mô nên được khuyến khích tích cực đón nhận những người chơi mới tham gia với các mô hình kinh doanh khác nhau, thậm chí nhiều hơn bây giờ. Điều này sẽ nhanh chóng tăng khả năng hấp thụ các cú sốc của hệ thống với lợi ích tăng thêm là cung cấp các dịch vụ phù hợp hơn với chi phí rẻ hơn cho khách hàng, qua đó giúp tăng trưởng kinh tế.
Hơn nữa, thật dễ dàng để giải quyết rủi ro đạo đức được tạo ra bởi các ngân hàng là công ty trách nhiệm hữu hạn. Chúng ta không thể quay lại cách tiếp cận về trách nhiệm vô hạn đối với tất cả mọi người vì điều đó có nghĩa là các ngân hàng không bao giờ có thể nhận được vốn cổ phần từ bên ngoài. Nhưng không có lý do gì mà chúng ta không thể yêu cầu ban lãnh đạo cấp cao của ngân hàng phải chịu nhiều nghĩa vụ pháp lý và trong trường hợp của các CEO, có thể phải chịu trách nhiệm vô hạn. Nếu ban quản lý cấp cao phải đối mặt với một tổn thất thực sự nghiêm trọng khi ngân hàng của họ phá sản, thì sẽ không cần phải có hàng loạt các quy định hạn chế.
Các vấn đề nảy sinh trong hệ thống tài chính mà chúng ta thấy hiện nay (trong đó có sự đổ vỡ của SVB và Credit Suisse) phần nào có nguyên nhân từ việc các cơ quan quản lý đang phải cố gắng làm điều không thể là vừa phải duy trì tăng trưởng trong khi kiểm soát lạm phát và ổn định tài chính ở mức cao. Câu hỏi đặt ra là các quy định tài chính nên phản ứng như thế nào với những bất ổn hiện tại trên thị trường tài chính thế giới và sự gia tăng rủi ro hệ thống dài hạn. Mặc dù có những giải pháp khả thi, như giảm thiểu rủi ro đạo đức, tăng khả năng hấp thụ sốc và ứng dụng công nghệ mới, tuy nhiên những bài học kinh nghiệm thực tế có thể sẽ hoàn toàn khác.
HN (nguồn: cepr.org)