Cuối tuần qua, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết chung kỳ họp với nhiều quyết sách quan trọng, trong đó Quốc hội đã chấp thuận bổ sung hơn 17.100 tỷ đồng vốn điều lệ cho Agribank. Khoản vốn bổ sung này sẽ được lấy từ dự toán chi ngân sách Trung ương năm 2023 đã được Quốc hội phê duyệt hơn 6.700 tỷ đồng; phần còn lại (hơn 10.300 tỷ đồng) bố trí từ ngân sách Nhà nước và thực hiện chuyển cấp trong 2024. Việc bổ sung vốn cho Agribank là hết sức cấp thiết, giúp ngân hàng đáp ứng các tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định. Đây không chỉ là tin vui đối với Agribank, mà với cả hệ thống TCTD. Bởi, quyết sách này của Quốc hội cho thấy, đã có sự thay đổi về “góc nhìn” không chỉ của Quốc hội, mà cả các Bộ, ngành thuộc Chính phủ đối với vấn đề cấp thiết của hệ thống TCTD hiện nay: Tăng khả năng chống đỡ trước các “cú shock” và có thể tiếp tục mở rộng tín dụng, hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế.
Tăng sức bền cho huyết mạch của nền kinh tế
An Bình
Cuối tuần qua, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết chung kỳ họp với nhiều quyết sách quan trọng, trong đó Quốc hội đã chấp thuận bổ sung hơn 17.100 tỷ đồng vốn điều lệ cho Agribank. Khoản vốn bổ sung này sẽ được lấy từ dự toán chi ngân sách Trung ương năm 2023 đã được Quốc hội phê duyệt hơn 6.700 tỷ đồng; phần còn lại (hơn 10.300 tỷ đồng) bố trí từ ngân sách Nhà nước và thực hiện chuyển cấp trong 2024. Việc bổ sung vốn cho Agribank là hết sức cấp thiết, giúp ngân hàng đáp ứng các tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định. Đây không chỉ là tin vui đối với Agribank, mà với cả hệ thống TCTD. Bởi, quyết sách này của Quốc hội cho thấy, đã có sự thay đổi về “góc nhìn” không chỉ của Quốc hội, mà cả các Bộ, ngành thuộc Chính phủ đối với vấn đề cấp thiết của hệ thống TCTD hiện nay: Tăng khả năng chống đỡ trước các “cú shock” và có thể tiếp tục mở rộng tín dụng, hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế.
Hiện hệ thống TCTD không chỉ đối diện với khó khăn khi sức cầu tín dụng khá thấp mà vấn đề còn ở tỷ lệ nợ xấu các khoản cho vay cũ đã và đang tăng lên. Sau khi các TCTD thực hiện chính sách cơ cấu lại nợ giữ nguyên nhóm nợ, miễn, giảm lãi suất cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid -19 lần thứ nhất (đã hết hiệu lực từ 30/6/2022) trên thực tế mặc dù nợ xấu gộp giảm từ 6,3% năm 2021 xuống 4,5% cuối năm 2022 nhưng nợ xấu nội bảng đã tăng từ 1,49 % lên 1,92%. Mặc dù điểm tích cực là các ngân hàng vẫn duy trì tỷ lệ bao nợ xấu ở mức tương đối cao (125% cuối năm 2022), nhưng với việc triển khai tiếp chính sách này lần thứ hai (theo Thông tư 02/2023/TT-NHNN, quy định về việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và khách hàng gặp khó khăn trả nợ vay phục vụ nhu cầu đời sống, tiêu dùng, áp dụng từ ngày 23/5/2023) đặt các TCTD trước nguy cơ tỷ lệ nợ xấu sẽ tiếp tục tăng khi hết thời hạn áp dụng Thông tư 02/TT-NHNN.
Trong khi đó, hệ số an toàn vốn (CAR) của các TCTD còn ở mức thấp, dễ chịu tác động tiêu cực từ các “cú shock” bên ngoài. Tính đến cuối năm 2022 hệ số CAR của các NHTM áp dụng Thông tư 41/2016/TT-NHNN gần như không thay đổi so với năm 2021; và mức CAR này tương đối thấp so với các nước trong khu vực. Cụ thể, thời điểm tháng 12/2022 tính chung hệ số CAR của các NHTM Nhà nước là 9,16% (riêng Agribank 8%), các NHTMCP là 12,01%. Trong khi đó, CAR của các ngân hàng khu vực ASEAN như Philippines là 16,2%; Singapore 17,2%; Malaysia 18,3%; Thái Lan 18,9% và Indonesia 23,6%. Chưa kể, trong khi các nước trong khu vực (như Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philippines, Indonesia) đã áp dụng toàn bộ, hoặc một phần Basel 3, thì các ngân hàng Việt Nam mới đang trong giai đoạn triển khai Basel 2 theo phương pháp cơ bản. Mức này cũng tương đối thấp so với định hướng của NHNN trong Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025”; trong đó phấn đấu đến hết năm 2023 tỷ lệ an toàn vốn của các NHTM đạt tối thiểu 10 – 11%).
Theo TS. Cấn Văn Lực và Nhóm nghiên cứu của BIDV, nguyên nhân chủ yếu đến từ việc gia tăng vốn của các NHTM còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các NHTM nhà nước do quan điểm thận trọng của Bộ Tài chính về thu ngân sách từ cổ tức (của phần vốn nhà nước tại các NHTM nhà nước); và thị trường chứng khoán suy giảm khiến việc phát hành thêm cổ phiếu khó khăn; hay do thị trường tài chính quốc tế có nhiều biến động khiến việc bán vốn cho các nhà đầu tư chiến lược hay bán cổ phần đầu tư tài chính của các NHTM không dễ dàng.
Hiện gánh nặng vốn của nền kinh tế vẫn đang dựa chủ yếu vào hệ thống ngân hàng, bao gồm cả nguồn vốn trung dài hạn, cũng bởi thị trường vốn vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt kênh phát hành trái phiếu đang gặp nhiều khó khăn, trong khi áp lực thanh toán trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) đáo hạn (nhất là lĩnh vực bất động sản) gia tăng trong năm 2023, năm 2024.
Khoảng 252 ngàn tỷ đồng TPDN sẽ đáo hạn năm 2023, tăng 64% so với năm 2022, chủ yếu tập trung vào cuối quý II và quý IV/2023, trong đó có 108 ngàn tỷ đồng trái phiếu bất động sản. Sang năm 2024 thị trường trái phiếu đáo hạn khoảng 282 ngàn tỷ đồng nữa, trong đó có khoảng 110 ngàn tỷ đồng trái phiếu bất động sản. Như vậy các doanh nghiệp bất động sản có rủi ro khá cao do lượng trái phiếu đáo hạn lớn, trong khi khả năng tìm kiếm nguồn vốn để đảo nợ khá hạn chế. Chính phủ đã ban hành Nghị định 08/2023 về trái phiếu riêng lẻ với các giải pháp tình thế như: cho phép doanh nghiệp phát hành có thể đàm phán với trái chủ để gia hạn nợ trái phiếu đáo hạn tối đa hai năm; Doanh nghiệp phát hành cũng có thể hoán đổi tài sản bất động sản cho trái phiếu; Và tạm hoãn áp dụng các điều kiện đối với nhà đầu tư chuyên nghiệp xếp hạng tín nhiệm và phân phối trái phiếu đến hết năm 2023… Tuy nhiên cho đến nay, tác động từ những giải pháp trên chưa mấy tác dụng.
Trong bối cảnh đó, hệ thống các TCTD, đặc biệt là các NHTM nhà nước phải “vững vàng” mới có thể tiếp tục thực hiện vai trò huyết mạch của nền kinh tế.