Tín dụng xanh là chiến lược tín dụng của các ngân hàng
Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nhiều của biến đổi khí hậu. Nhận thức rõ tầm quan trọng của tín dụng xanh trong phát triển kinh tế bền vững, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kì 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2050, Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó có định hướng phát triển tín dụng xanh - ngân hàng xanh.
Theo Nguyên tắc tín dụng xanh được ban hành vào năm 2018 (gọi tắt là GLP 2018) bởi Hiệp hội thị trường tín dụng (Loan market Association) và Hiệp hội thị trường Tín dụng châu Á - Thái Bình Dương (Asia Pacific Loan Market Association) thì tín dụng xanh được định nghĩa là bất kì loại cho vay nào được cung cấp riêng để cấp vốn hoặc tái cấp vốn toàn bộ hoặc một phần các dự án xanh đủ điều kiện mới và/hoặc hiện có. Danh mục theo GLP 2018 bao gồm: Năng lượng tái tạo; sử dụng năng lượng hiệu quả; giao thông xanh; sản phẩm, các công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường và/hoặc thích nghi với nền kinh tế; quản lí nước bền vững và xử lí nước thải; tòa nhà xanh; nông lâm nghiệp bền vững; ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm.
Tín dụng xanh là chiến lược tín dụng của các ngân hàng, không ủng hộ các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường. Tín dụng xanh điều chỉnh cơ cấu tỉ lệ tín dụng dài hạn và ngắn hạn đối với các doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp gây ô nhiễm nặng (Wang và cộng sự, 2019). Trong quá trình cấp tín dụng xanh, ngân hàng lấy thông tin liên quan đến dự án và doanh nghiệp xin vay làm tiêu chuẩn kiểm tra trong quá trình cho vay, sau đó đưa ra quyết định cho vay (Yao và cộng sự, 2021). Hay nói cách khác, tín dụng xanh được hiểu là những khoản tín dụng nhằm hỗ trợ các dự án sản xuất, kinh doanh không/ít gây rủi ro tới môi trường, góp phần bảo vệ sinh thái chung, là biểu hiện của nền tài chính hướng đến sự phát triển bền vững.
Tại Việt Nam, theo Điều 149 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, có hiệu lực từ ngày 01/01/2022 quy định về tín dụng xanh như sau: Tín dụng xanh là tín dụng được cấp cho các dự án đầu tư sau đây: (i) Sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; (ii) Ứng phó với biến đổi khí hậu; (iii) Quản lí chất thải; (iv) Xử lí ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường; (v) Phục hồi hệ sinh thái tự nhiên; (vi) Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; (vii) Tạo ra lợi ích khác về môi trường.
Định hướng dòng vốn tín dụng, đầu tư vào các dự án xanh
Theo số liệu từ Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam(NHNN), trong giai đoạn 2017-2022, dư nợ cấp tín dụng của hệ thống cho các lĩnh vực xanh của Việt Nam có mức tăng trưởng bình quân hơn 23%/năm. Tính đến cuối năm 2022, dư nợ tín dụng đối với các dự án xanh đạt hơn 500 ngàn tỷ đồng (chiếm hơn 4,2 % tổng dư nợ toàn nền kinh tế), tăng 12,96% so với cuối năm 2021. Dư nợ được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt hơn 2.359 ngàn tỷ đồng, chiếm hơn 20% dư nợ cho vay của nền kinh tế, tăng 27,69% so với cuối năm 2021, với hơn 1,2 triệu món vay.
NHNN đã triển khai nhiều giải pháp định hướng dòng vốn tín dụng, đầu tư vào các dự án xanh, thân thiện với môi trường, từ đó góp phần thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, phát triển bền vững của Việt Nam.
Các Ngân hàng thương mại (NHTM) cũng đã rất tích cực triển khai cho vay các dự án “xanh”. Ngoài nguồn lực tự có, nhiều NHTM đã chủ động hợp tác với nhiều tổ chức, định chế tài chính quốc tế để có được nguồn vốn lớn nhằm đẩy mạnh cho vay tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi hơn.
Tháng 3-2023, Vietcombank và Ngân hàng JBIC (Nhật Bản) đã ký kết hợp tác tài trợ vốn 300 triệu USD để hỗ trợ dự án năng lượng tái tạo. Ông Nguyễn Thanh Tùng, Tổng Giám đốc Vietcombank, cho biết, Vietcombank luôn dành nguồn lực đặc biệt để cho vay tài trợ các dự án xanh. Cụ thể, đã triển khai thành công gói tín dụng 200 triệu USD cho lĩnh vực này vào năm 2019.
BIDV cũng cho biết đã dành tỷ trọng nhất định cho các khách hàng trong lĩnh vực năng lượng xanh vay vốn với khoảng 1.718 dự án đã được hỗ trợ. BIDV hiện không tài trợ cho các dự án nhiệt điện than và đẩy mạnh cho vay tín dụng trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Tính đến cuối năm 2022, dư nợ tín dụng xanh BIDV đạt gần 63,8 ngàn tỷ đồng (tương đương 2,7 tỷ USD) chiếm 4,3% tổng dư nợ BIDV và 13% tổng dư nợ cho vay lĩnh vực xanh toàn bộ nền kinh tế. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho ngành năng lượng, ngoài nguồn vốn kinh doanh thông thường, BIDV đã huy động thành công nhiều nguồn vốn từ các tổ chức quốc tế như WB, AFD…Danh mục cho vay của BIDV cho các lĩnh vực xanh và bền vững đến năm 2025 dự kiến đạt 3 tỷ USD, chiếm khoảng 5% tổng dư nợ BIDV.
Hỗ trợ nền nông nghiệp Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu, từ năm 2016 Agribank đã triển khai chương trình tín dụng ưu đãi phục vụ nông nghiệp sạch với quy mô vốn không hạn chế, ban đầu là 50.000 tỷ đồng. Tính đến cuối năm 2022, doanh số cho vay đã đạt hơn 30.000 tỷ đồng, dư nợ đạt hơn 5.000 tỷ đồng với gần 4.000 khách hàng được vay. Hiện Agribank vẫn luôn dành vốn cho các lĩnh vực nông nghiệp xanh.
Phó Tổng Giám đốc Agribank Nguyễn Thị Phượng cho biết, là ngân hàng thương mại dẫn đầu trong cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn, Agribank nhận thức sâu sắc về những nguy cơ khi nền nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt với hàng loạt thách thức từ biến đổi khí hậu.
Chính vì vậy, Agribank quyết tâm đi đầu thực hiện chỉ đạo của NHNN về thúc đẩy tín dụng xanh. “Đến thời điểm hiện tại, có thể nói tín dụng xanh đã và đang nhận được sự quan tâm đúng mức của các ngân hàng thương mại. Agribank cũng đã đưa ra các chương trình tín dụng ưu đãi cho khách hàng vay vốn triển khai các dự án có yếu tố xanh”, bà Nguyễn Thị Phượng cho biết.
Trong những năm qua, Agribank đã ban hành một loạt văn bản về việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường, xã hội trong hoạt động cấp tín dụng.
Từ năm 2016, Agribank cũng đã chú trọng đầu tư cho nông nghiệp công nghệ cao và triển khai chương trình tín dụng ưu đãi phục vụ “Nông nghiệp sạch” với quy mô vốn không hạn chế, ban đầu là 50.000 tỷ đồng.
Tính đến ngày 31/12/2022, doanh số cho vay từ khi bắt đầu triển khai chương trình của Agribank đã đạt hơn 30.000 tỷ đồng, dư nợ đạt hơn 5.000 tỷ đồng với gần 4.000 khách hàng (trong đó có gần 100 khách hàng doanh nghiệp và 3.900 khách hàng là cá nhân).
Không chỉ ở những ngân hàng “Big 4”, các NHTM tư nhân có uy tín cũng đã thu hút được nguồn vốn lớn từ các tổ chức quốc tế nhằm “xanh hóa” tín dụng. Cụ thể, cuối 2022, Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC - thuộc Ngân hàng Thế giới) hoàn tất giải ngân khoản vay 150 triệu USD kỳ hạn 5 năm cho VPBank để ngân hàng này bổ trợ cho vay các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có nhiều dự án trong lĩnh vực môi trường và chống biến đổi khí hậu tại Việt Nam. Trước đó, IFC cùng các nhà tài trợ quốc tế khác đã cấp cho VPBank khoản tín dụng xanh trị giá 212,5 triệu USD. Hiện VPBank đã ban hành Khung Tín dụng xanh nhằm đưa ra quy trình sử dụng và quản lý nguồn vốn vay xanh cho các dự án đáp ứng tiêu chí xanh.
Tương tự, IFC và 5 quỹ đầu tư quốc tế khác cũng đã mở rộng gói tín dụng hỗ trợ vốn cho SeABank từ 150 triệu USD lên 220 triệu USD để ngân hàng này mở rộng cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các dự án chống biến đổi khí hậu.
Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường. Để phát triển bền vững nền kinh tế, Việt Nam đã đưa ra chiến lược phát triển nền kinh tế xanh, được thể hiện rõ trong Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050. Ngành ngân hàng tham gia thực hiện có hiệu quả Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh; thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của ngành ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nhằm đạt được mục tiêu thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường và công bằng về xã hội, hướng tới nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, trung hòa các-bon và đóng góp vào mục tiêu hạn chế sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu./.
NN