Tại kỳ họp bất thường lần thứ 2, Quốc hội khóa XV, hôm 5/1, Quốc hội đã nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Về định hướng phát triển không gian kinh tế - xã hội, trên cơ sở các vùng kinh tế trọng điểm hiện nay, quy hoạch sẽ lựa chọn một số địa bàn có điều kiện thuận lợi nhất để hình thành các vùng động lực quốc gia...
Quy hoạch tổng thể Quốc gia:
Hình thành các vùng động lựcđể phát triển nhanh, bền vững
Dương Công Chiến
Tại kỳ họp bất thường lần thứ 2, Quốc hội khóa XV, hôm 5/1, Quốc hội đã nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Về định hướng phát triển không gian kinh tế - xã hội, trên cơ sở các vùng kinh tế trọng điểm hiện nay, quy hoạch sẽ lựa chọn một số địa bàn có điều kiện thuận lợi nhất để hình thành các vùng động lực quốc gia...
Phát triển bao trùm, nhanh và bền vững
Trình bày tờ trình của Chính phủ về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết, quy hoạch đã quán triệt và cụ thể hóa rõ hơn 5 quan điểm về tổ chức không gian phát triển. Cụ thể, không gian phát triển quốc gia phải được tổ chức một cách hiệu quả, thống nhất trên quy mô toàn quốc, bảo đảm liên kết nội vùng, liên vùng và khai thác lợi thế so sánh từng vùng, nhằm huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Phát triển có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào một số địa bàn có điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực chất lượng cao và các tiềm năng, lợi thế khác cho phát triển để hình thành vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng, tạo hiệu ứng lan tỏa thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững trong thời kỳ đến năm 2030…
Quy hoạch tổng thể quốc gia cũng nêu tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam là nước phát triển, thu nhập cao, có thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại. Nền kinh tế vận hành theo phương thức của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực tăng trưởng chủ yếu.
Giai đoạn 2031 - 2050, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 6,5 - 7,5%/năm. GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đến năm 2050 đạt khoảng 27.000 - 32.000 USD. Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2050 đạt 70 - 75%; Chỉ số phát triển con người ở mức rất cao (chỉ số HDI từ 0,8 trở lên), đời sống của người dân hạnh phúc; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc...
Quy hoạch quốc gia cũng đưa ra những nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quy hoạch. Theo đó, hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia. Phát triển các vùng động lực, cực tăng trưởng quốc gia quan trọng để hình thành các đầu tàu dẫn dắt sự phát triển của quốc gia. Hình thành và phát triển các hành lang kinh tế theo trục Bắc - Nam, các hành lang kinh tế Đông - Tây, các vành đai kinh tế ven biển; kết nối hiệu quả các cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu quốc tế, đầu mối giao thương lớn, các đô thị, trung tâm kinh tế, cực tăng trưởng. Phát triển các vành đai công nghiệp - đô thị - dịch vụ tại các vùng động lực, vùng đô thị lớn.
Trên cơ sở các vùng kinh tế trọng điểm hiện nay, lựa chọn một số địa bàn có điều kiện thuận lợi nhất để hình thành các vùng động lực quốc gia, bao gồm: Vùng động lực phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) sẽ trở thành trung tâm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo quốc gia; Vùng động lực phía Nam (Thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai - Bà Rịa - Vũng Tàu) sẽ trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ, giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số hàng đầu cả nước và khu vực Đông Nam Á. Vùng động lực miền Trung (khu vực ven biển Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam - Quảng Ngãi) sẽ tiếp tục hình thành, phát triển hệ thống đô thị ven biển, các trung tâm du lịch biển, du lịch sinh thái mang tầm khu vực và quốc tế; trung tâm công nghiệp lọc hóa dầu quốc gia, công nghiệp ô tô - phụ trợ ngành cơ khí, khu công nghệ cao. Vùng động lực Đồng bằng sông Cửu Long, sẽ trở thành trung tâm dịch vụ, du lịch, logistics, công nghiệp phục vụ nông nghiệp…
Làm rõ thêm các giải pháp để đạt các mục tiêu chiến lược đề ra
Thẩm tra về nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (UBKT) Vũ Hồng Thanh cho rằng, Quy hoạch tổng thể quốc gia được lập nhằm cụ thể hóa Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (giai đoạn 2021 - 2030) theo hướng phân bố không gian, phân vùng và liên kết vùng. Do vậy, cần nghiên cứu làm rõ hơn, các nội dung phải định hướng trong việc sắp xếp, phân bố không gian để đạt được các mục tiêu mà Chiến lược đã đề ra.
“Quy hoạch tổng thể quốc gia với vai trò định hướng và xử lý mối quan hệ giữa các quy hoạch với nhau, do đó, đề nghị Chính phủ bổ sung, nhấn mạnh hơn việc giảm chồng chéo, chồng lấn, xung đột trong sử dụng không gian giữa các ngành, các địa phương và quan điểm về phát triển kinh tế biển”, ông Thanh nhấn mạnh.
Về mục tiêu phát triển đến năm 2030, đại diện UBKT nhận thấy Báo cáo quy hoạch đã có sự phân loại một số mục tiêu cụ thể, trong đó nội dung mục tiêu về phát triển kết cấu hạ tầng ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện mục tiêu tổng quát cũng như các mục tiêu về kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, mục tiêu cho việc phát triển kết cấu hạ tầng mới tập trung chủ yếu cho hạ tầng giao thông, nhất là giao thông đường bộ, trong khi một số ngành khác có vai trò quan trọng nhưng còn khá chung chung như: hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng năng lượng, hạ tầng thủy lợi… Vì vậy, UBKT đề nghị Chính phủ nghiên cứu, bổ sung định hướng phân bố và tổ chức không gian cho khu vực tư nhân trong các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Điều chỉnh, mục tiêu về phát triển con người Việt Nam toàn diện về tâm, trí, thể, mỹ, chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì ở mức cao (chỉ số HDI trên 0,7)…
Liên quan đến định hướng phát triển không gian kinh tế - xã hội, nhất là với các vùng động lực quốc gia và hành lang kinh tế, UBKT cho rằng, Báo cáo quy hoạch đã đề xuất các định hướng phân vùng trọng điểm đầu tư, vùng khuyến khích phát triển và vùng hạn chế phát triển; các khu vực lãnh thổ cần bảo tồn, cấm khai thác, sử dụng. Tuy nhiên, trừ định hướng phân vùng hạn chế phát triển; các khu vực lãnh thổ cần bảo tồn, cấm khai thác, sử dụng... thì các vùng còn lại đều chưa làm rõ được tiêu chí phân vùng cũng như mục tiêu phân vùng và mối quan hệ giữa các vùng. Ngoài ra, UBKT cho rằng kết cấu hiện tại chưa làm rõ được sự gắn kết giữa các vùng động lực quốc gia với nhau, với các hành lang kinh tế và với định hướng phát triển và phân bố không gian các ngành quan trọng. Có ý kiến đề nghị bổ sung nội dung các khu vực địa hình quan trọng đặc biệt và quan trọng cao ưu tiên cho nhiệm vụ quốc phòng được xác định trong quy hoạch tỉnh để xác định khu vực cần bảo tồn, hạn chế phát triển. Có ý kiến đề nghị bảo đảm trong định hướng phát triển, phân bố không gian các ngành quan trọng cần có sự gắn kết bắt buộc với phân bố không gian cho hạ tầng xã hội tương ứng, đặc biệt là hạ tầng giáo dục và đào tạo.
“Việc đưa ra định hướng phát triển cũng cần phải bảo đảm được mục tiêu giải quyết các mâu thuẫn trong phát triển giữa các ngành đã tồn tại ở thời kỳ 2011- 2020. Do đó, UBKT đề nghị bổ sung, làm rõ các định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất…”, ông Thanh nhấn mạnh.